Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Trái lại, trên thị trường xuất khẩu, áp lực giảm giá đang hiện hữu rõ rệt. Theo Platts, giá gạo thơm 5% của Việt Nam đã lùi về mức thấp nhất trong 14 năm, phản ánh nhu cầu suy yếu từ các thị trường chủ lực như Philippines và châu Phi, trong khi nguồn cung gia tăng mạnh trong cao điểm thu hoạch.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 19/3/2026: Giá lúa gạo chững lại, gạo xuất khẩu về đáy 14 năm |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu đ ingang so với hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 8.300 – 8.400 đồng/kg; CL 555 ở mức 7.900 – 7.900 đồng/kg; OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 19/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại chững lại so với hôm qua. Theo đó, giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 19/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đứng giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám dao động từ 7.700 – 7.850 đồng/kg; giá tấm IR 504 cũng đi ngang ở mức 7.550 – 7.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 19/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Thị trường lúa giao dịch không biến đông so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 19/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Tại Việt Nam, giá gạo Jasmine hiện dao động quanh 424 – 428 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm ở mức 354 – 358 USD/tấn. Đáng chú ý, theo Platts, giá gạo thơm 5% đã giảm xuống còn 399 USD/tấn (FOB) tính đến ngày 17/3 – mức thấp nhất trong vòng 14 năm, giảm 62 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân chính đến từ áp lực nguồn cung khi vụ Đông Xuân – vụ mùa lớn nhất trong năm đang vào cao điểm thu hoạch, hiện đã đạt khoảng 35% sản lượng. Lượng hàng ra thị trường tăng nhanh buộc nhiều doanh nghiệp phải điều chỉnh giá để chốt hợp đồng và duy trì dòng tiền. Trong khi đó, nhu cầu từ các thị trường quan trọng như Philippines và châu Phi vẫn yếu, một phần do tác động từ bất ổn địa chính trị, khiến người mua duy trì tâm lý thận trọng.
Không chỉ chịu áp lực nội tại, gạo Việt Nam còn đối mặt cạnh tranh gay gắt từ thị trường quốc tế. Thái Lan hiện giữ mức giá cao nhất khu vực với gạo trắng 5% tấm ở mức 385 USD/tấn, trong khi Ấn Độ và Pakistan duy trì mặt bằng giá thấp hơn, lần lượt dao động quanh 346 – 350 USD/tấn và 352 – 356 USD/tấn. Sự phân hóa này khiến người mua có nhiều lựa chọn hơn, qua đó gia tăng áp lực lên các nhà xuất khẩu Việt Nam.
Dù vậy, thị trường cũng xuất hiện tín hiệu cho thấy giá có thể tiến gần vùng đáy, khi mức dưới 380 USD/tấn được đánh giá là tiệm cận chi phí sản xuất. Trong thời gian tới, giá gạo nhiều khả năng tiếp tục chịu sức ép từ nguồn cung lớn, nhưng có thể ổn định trở lại nếu nhu cầu nhập khẩu cải thiện hoặc nguồn bán ra được điều tiết hợp lý.