Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện duy trì ổn định, trong khi giá gạo thế giới ghi nhận giảm nhẹ trong tuần trước. Trong bối cảnh chi phí vận tải tăng do xung đột tại Trung Đông, Bộ Nông nghiệp Philippines đang đề xuất áp giá trần đối với gạo nhập khẩu nhằm kiềm chế đà tăng của giá bán lẻ.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 17/3/2026: Giá lúa gạo tiếp tục ổn định, Philippines tính áp trần gạo nhập khẩu |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá không biến động. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho mua bán ít. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 7.900 – 7.900 đồng/kg; gạo OM 5451 hiện ở mức 8.450 – 8.550 đồng/kg; OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 17/3/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không đổi so với hôm qua. Giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không đứng giá. Theo đó, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 17/3/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám dao động từ 7.900 – 8.100 đồng/kg; giá tấm thơm ở mức 7.650 – 7.800 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 17/3/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Thị trường lúa giao dịch ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, tại An Giang, lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; OM 5451 ở 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 17/3/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), gạo Jasmine của Việt Nam giảm khoảng 5 USD/tấn trong tuần trước, xuống còn 424 – 428 USD/tấn. Tương tự, gạo trắng 5% tấm giảm 2 USD/tấn, dao động trong khoảng 356 - 360 USD/tấn.
Giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ cũng giảm 3 USD/tấn, còn 346 – 350 USD/tấn. Tuy nhiên, gạo đồ 5% tấm vẫn ổn định ở mức 349 – 353 USD/tấn. Tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm hiện đang được giao dịch ở mức 352 - 356 USD/tấn, giảm 5 USD/tấn. Ngược lại, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan tăng 5 USD/tấn, lên mức 385 USD/tấn.
Trong bối cảnh giá lương thực chịu tác động từ các biến động địa chính trị toàn cầu, Philippines đang xem xét một biện pháp can thiệp mạnh nhằm kiềm chế đà tăng của giá gạo - mặt hàng thiết yếu đối với gần 115 triệu dân. Theo Manila Bulletin, Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) đề xuất áp dụng giá trần khoảng 48 - 50 Peso/kg đối với gạo xay xát nhập khẩu, khi giá bán lẻ tại nhiều khu vực đã tăng lên 60 - 65 Peso/kg.
Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel cho rằng mức giá này là cần thiết để ngăn chặn tình trạng trục lợi và hạn chế tác động từ chi phí nhập khẩu gia tăng. Áp lực lớn nhất hiện nay đến từ chi phí vận chuyển, khi căng thẳng tại Trung Đông kể từ cuối tháng 2 đã đẩy giá nhiên liệu tăng cao, khiến cước vận tải gạo từ Việt Nam – nhà cung cấp lớn nhất của Philippines tăng gấp đôi, từ 20 USD/tấn lên 40 USD/tấn.
Dữ liệu từ Cục Công nghiệp Thực vật Philippines cho thấy, tính đến ngày 5/3, nước này đã nhập khẩu 865.107 tấn gạo, trong đó Việt Nam chiếm gần 87% với hơn 751.000 tấn. Mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn cung bên ngoài khiến thị trường gạo Philippines dễ bị tổn thương trước các cú sốc chi phí logistics và biến động chuỗi cung ứng.
Khác với cơ chế giá bán lẻ đề xuất (MSRP) mang tính khuyến nghị trước đây, Manila đang xem xét áp dụng giá trần có tính ràng buộc pháp lý, buộc các nhà bán lẻ phải tuân thủ. Tuy nhiên, chính phủ cũng cân nhắc tách biệt chính sách đối với gạo nội địa nhằm tránh gây áp lực lên thu nhập của nông dân.
Áp lực nguồn cung trong nước hiện cũng đang gia tăng. Theo Cơ quan Thống kê Philippines (PSA), sản lượng lúa quý I dự kiến chỉ đạt 4,36 triệu tấn, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước, trong khi diện tích thu hoạch giảm 6,2%.
Bên cạnh đề xuất áp giá trần, DA đang mở rộng các chương trình bình ổn thị trường, như bán gạo nhập khẩu 45 – 48 Peso/kg tại các đô thị lớn và duy trì chương trình gạo 20 Peso/kg cho nhóm thụ hưởng. Các biện pháp điều tiết này phản ánh nỗ lực mạnh tay của Manila nhằm hạ nhiệt giá lương thực, trong bối cảnh chuỗi cung ứng khu vực vẫn chịu sức ép từ căng thẳng địa chính trị và chi phí vận tải tăng cao.