![]() |
| Dự án mở rộng Cảng Quy Nhơn: Mong muốn quyền lợi bồi thường đất tiếp tục được làm rõ |
Quá trình giải phóng mặt bằng phục vụ dự án mở rộng Cảng Quy Nhơn đang phát sinh kiến nghị từ một số hộ dân từng là công nhân sinh sống tại phường Hải Cảng (cũ), nay thuộc phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai. Khi thực hiện giải phóng mặt bằng, người dân cho rằng việc xác định diện tích được bồi thường, bố trí tái định cư và giải quyết tài sản chưa đáp ứng kiến nghị bởi cách xác định giá trị pháp lý của những giấy tờ được lập qua nhiều giai đoạn quản lý đất đai, theo tài liệu các hộ cung cấp.
Một trong những trường hợp có hồ sơ đáng chú ý là gia đình ông Lê Hồng Nam.
Theo tài liệu gia đình cung cấp, ngày 20/6/1990, cụ Lê Hồng Việt (cha ông Nam), được phân 100 m² đất theo Quyết định số 31. Gia đình cho biết đã xây dựng nhà ở, sử dụng ổn định trong nhiều năm. Ngoài diện tích được phân, gia đình có khoảng 27 m² đất bị sạt lở, sau đó tự bỏ kinh phí bồi đắp, xây kè để giữ đất. Hồ sơ còn có quyết định phân nhà ở năm 2000, với diện tích khoảng 40 m².
Ngày 19/5/2026, Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn ban hành Quyết định số 2693/QĐ-CCXP về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lê Hồng Nam. Quyết định viện dẫn Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4204/QĐ-XPHC ngày 28/10/2025 và Quyết định số 2485/QĐ-SĐBSHB ngày 14/5/2026 về sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định xử phạt.
Theo nội dung quyết định cưỡng chế, ông Nam bị xác định có hành vi lấn đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý, được thể hiện trong hồ sơ địa chính thuộc tờ bản đồ số 127 của phường Quy Nhơn, để sử dụng vào mục đích đất ở. Diện tích được xác định vi phạm là 27,8 m², với hiện trạng có khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền gạch ceramic, mái tôn và công trình hai tầng. Quyết định yêu cầu khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
Khi các cơ quan chức năng triển khai giải phóng mặt bằng, gia đình ông Nam kiến nghị xem xét lại việc xác định quyền lợi đối với đất và tài sản, đồng thời đề nghị giải thích nghĩa vụ tài chính phát sinh khi được bố trí đất tái định cư.
Một trường hợp khác là gia đình ông Trương Văn Lộc. Nhà đất gia đình ông Lộc đang sử dụng có nguồn gốc từ nhà ở tập thể được Công ty Cảng Quy Nhơn phân cho ông Nguyễn Minh Hoàng theo Quyết định số 39 ngày 28/1/2008 (thửa đất 44, tờ bản đồ số 1, phường Hải Cảng), được đo đạc và thể hiện trên bản đồ địa chính năm 2014.
Khi giải phóng mặt bằng, gia đình phản ánh đã được bố trí chỗ ở tái định cư nhưng phải nộp tiền sử dụng đất, trong khi kiến nghị về bồi thường đối với diện tích đất cũ chưa được giải quyết như mong muốn.
Trường hợp gia đình bà Đặng Thị Nguyên Phượng phản ánh thửa đất khoảng 107 m² có nguồn gốc được cấp cho cha bà là cụ Đặng Văn Chánh từ năm 1976. Gia đình cho biết đã sử dụng ổn định nhiều năm, có thông tin đo đạc địa chính năm 2014, nhưng một số giấy tờ và tài sản bị thất lạc trong quá trình di dời.
Gia đình ông Nguyễn Chí Hướng kiến nghị xem xét quyền lợi liên quan đến nhà ở tập thể được phân theo Quyết định ngày 10/6/1993, với diện tích 40,5 m².
Trong khi đó, gia đình ông Văn Xuân Hoàng cho biết năm 1990, mẹ ông là cụ Võ Thị Kim Huệ được phân 100 m² đất để xây dựng nhà ở. Hồ sơ năm 1997 ghi nhận thửa đất số 05 có diện tích 133,4 m², còn diện tích gia đình phản ánh sử dụng thực tế khoảng 137,9 m². Sự chênh lệch giữa diện tích được phân, diện tích ghi trong hồ sơ và diện tích sử dụng thực tế là vấn đề cần được xác minh và phân biệt phần đất có nguồn gốc được phân với phần đất hình thành do tôn tạo hoặc sử dụng thêm.
Những trường hợp trên có điểm chung là nhà đất được hình thành và sử dụng ở nhiều giai đoạn, giấy tờ pháp lý không giống nhau. Các hộ gia đình nói trên mong muốn cơ quan có thẩm quyền xem xét đối chiếu Điều 140 và Điều 95 Luật Đất đai năm 2024, cùng các quy định hướng dẫn liên quan, Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của từng trường hợp hồ sơ cụ thể.
Dự án mở rộng Cảng Quy Nhơn cần quỹ đất để phát triển hạ tầng cảng biển. Để giải quyết dứt điểm những kiến nghị kéo dài, cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục làm rõ nguồn gốc đất và căn cứ pháp lý của từng trường hợp, bảo đảm quá trình bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng được thực hiện đúng quy định, hạn chế phát sinh khiếu nại, tranh chấp, bảo đảm tiến độ dự án phải đi đôi với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
