| Bài liên quan |
| Đã xuất cấp trên 716 tỉ đồng hàng dự trữ quốc gia trong nửa đầu năm |
| Đề xuất mở rộng tiêu chí hàng dự trữ chiến lược |
Ngày 17/9/2026, Bộ Tài chính gửi hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược tới Bộ Tư pháp.
Theo Bộ Tài chính, nghị định được xây dựng nhằm tạo cơ sở triển khai các quy định mới của Luật Dự trữ quốc gia từ ngày 1/1/2027. Trong đó, dự trữ chiến lược là một chế định mới, gắn với việc huy động thêm nguồn lực từ các đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp tham gia hoạt động dự trữ quốc gia.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất phương thức “xuất hàng dự trữ có hoàn trả”, cùng các quy định về tiêu chí, danh mục hàng dự trữ chiến lược; điều kiện lựa chọn đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tham gia; giao kết và thực hiện hợp đồng dự trữ chiến lược.
![]() |
| Đề xuất xuất hàng dự trữ có hoàn trả khi thị trường đứt gãy nguồn cung |
Theo Bộ Tài chính, việc bổ sung cơ chế “xuất có hoàn trả” xuất phát từ yêu cầu phát huy vai trò của dự trữ quốc gia như một công cụ điều tiết thị trường, đặc biệt trong những tình huống nguồn cung bị gián đoạn và cần can thiệp kịp thời.
Cơ chế này được xây dựng trên nguyên tắc hàng dự trữ chiến lược được đưa ra sử dụng để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thị trường, đồng thời gắn với trách nhiệm khôi phục lượng dự trữ sau đó.
Theo đề xuất, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp được giao sử dụng hàng dự trữ chiến lược theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải hoàn trả bằng hàng cùng loại, bảo đảm số lượng và chất lượng tương đương hoặc cao hơn trong thời hạn xác định.
Như vậy, thay vì chỉ bán hàng dự trữ và thu tiền, cơ chế mới hướng tới việc đưa hàng hóa vào lưu thông đúng thời điểm cần thiết nhưng vẫn duy trì năng lực dự trữ cho những tình huống tiếp theo.
Bộ Tài chính cho rằng phương thức này vừa đáp ứng mục tiêu sử dụng dự trữ quốc gia để điều tiết thị trường, vừa góp phần bảo toàn tổng mức dự trữ chiến lược.
Hiệu quả của việc sử dụng hàng dự trữ vì vậy được đặt trên hai yêu cầu song song: đáp ứng kịp thời nhu cầu ổn định thị trường và bảo đảm khả năng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ dự trữ trong các tình huống phát sinh sau đó.
Trong quá trình xây dựng đề xuất, Bộ Tài chính cho biết đã tham khảo kinh nghiệm quốc tế về phương thức xuất hàng dự trữ có hoàn trả.
Tại Nga, cơ chế cho vay hàng từ dự trữ nhà nước được thực hiện kèm yêu cầu hoàn trả vào kho dự trữ một lượng hàng tương ứng và có tính chất tương tự.
Tại Mỹ, doanh nghiệp nhận dầu từ nguồn dự trữ phải hoàn trả lượng dầu đã nhận và một lượng dầu bổ sung theo thỏa thuận. Cơ chế này vừa giúp đưa dầu ra thị trường khi cần thiết, vừa góp phần tăng lượng dự trữ sau khi hoàn trả.
Điểm chung của các mô hình được tham khảo là việc đưa hàng dự trữ vào lưu thông đi kèm nghĩa vụ hoàn trả bằng hiện vật, thay vì chỉ thực hiện theo cơ chế bán hàng và thu hồi giá trị bằng tiền.
Từ thực tiễn trong nước, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng cơ chế tương tự đối với hàng dự trữ chiến lược trong những trường hợp cần can thiệp để xử lý tình trạng gián đoạn nguồn cung.
Đề xuất “xuất có hoàn trả” cũng nhận được nhiều ý kiến góp ý từ các địa phương.
UBND tỉnh Gia Lai đề nghị bổ sung nguyên tắc riêng đối với hàng y tế. Theo đó, hàng hoàn trả cần đáp ứng điều kiện lưu hành, tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu kỹ thuật, khả năng truy xuất theo lô hoặc số seri, điều kiện bảo quản và thời hạn sử dụng còn lại tối thiểu. Trường hợp thay thế hàng hóa cần có ý kiến của cơ quan quản lý chuyên ngành.
Bộ Tài chính cho biết dự thảo đã quy định nguyên tắc chung tại điểm a khoản 2 Điều 15, theo đó hàng dự trữ chiến lược hoàn trả không thấp hơn về chủng loại, số lượng và chất lượng so với hàng đã xuất.
Vì vậy, cơ quan soạn thảo lựa chọn cách quy định chung để áp dụng đối với các nhóm hàng, thay vì thiết kế quy định riêng cho từng loại hàng hóa.
Một số ý kiến khác đề nghị làm rõ bản chất tài chính của cơ chế “xuất có hoàn trả”, nhất là trong trường hợp giá hàng hóa biến động trong thời gian xuất sử dụng. Đồng thời, có ý kiến đề nghị bổ sung khái niệm về hàng dự trữ chiến lược công nghệ cao và trường hợp biến động lớn về cung cầu, giá cả để làm căn cứ xác định điều kiện áp dụng.
Theo Bộ Tài chính, biến động giá trong thời gian sử dụng hàng dự trữ thuộc cơ chế giá và điều kiện thực hiện hợp đồng, được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng. Các nội dung liên quan đến sản phẩm công nghệ cao và biến động cung cầu, giá cả đã được quy định tại pháp luật chuyên ngành như Luật Công nghệ cao và Luật Giá, nên dự thảo không quy định lại nhằm tránh chồng chéo.
Bên cạnh cơ chế xuất có hoàn trả, dự thảo Nghị định cũng đặt ra các chính sách nhằm thu hút nguồn lực xã hội tham gia dự trữ chiến lược.
UBND các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ninh và TP. Huế cho rằng, để huy động nguồn lực và vốn hợp pháp của doanh nghiệp theo chủ trương xã hội hóa dự trữ chiến lược, các cơ chế ưu đãi cần đủ sức hấp dẫn hơn.
Các địa phương đề nghị rà soát cơ sở pháp lý và thẩm quyền trong việc quy định các chính sách về đất đai, thuế, hỗ trợ lãi suất và các khoản hỗ trợ từ ngân sách, bảo đảm phù hợp với Luật Đất đai, pháp luật về thuế, ngân sách nhà nước và tín dụng.
Đối với hỗ trợ lãi suất, có ý kiến đề nghị linh hoạt hơn mức trần hỗ trợ đối với doanh nghiệp trực tiếp đầu tư xây dựng kho dự trữ quy mô lớn hoặc dự trữ những mặt hàng chiến lược có chi phí bảo quản cao.
Một số ý kiến cũng đề nghị hướng dẫn cụ thể hơn về hạch toán chi phí và giảm trừ thu nhập chịu thuế đối với phần chênh lệch phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện phương thức “xuất có hoàn trả”, qua đó hạn chế vướng mắc trong quá trình quyết toán thuế.
Tiếp thu các ý kiến, Bộ Tài chính đã rà soát các quy định của dự thảo nhằm bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.
Đáng chú ý, điểm a Điều 13 dự thảo quy định Nhà nước hỗ trợ lãi suất đối với khoản vay thực tế sử dụng để tham gia dự trữ chiến lược. Mức hỗ trợ không vượt quá mức lãi suất cho vay của Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoặc thông qua tổ chức tài chính nhà nước ngoài ngân sách; không hỗ trợ lãi suất đối với dư nợ quá hạn, lãi phạt và khoản vay đảo nợ.
Việc hoàn thiện cơ chế “xuất có hoàn trả” cùng các chính sách huy động nguồn lực xã hội được đặt trong yêu cầu xây dựng hệ thống dự trữ chiến lược có khả năng phản ứng linh hoạt hơn trước những biến động của thị trường, đồng thời bảo đảm nguồn lực dự trữ được duy trì và bổ sung sau khi đưa vào sử dụng.