| Bài liên quan |
| Việt Nam nằm trong top 20 quốc gia có số giờ làm việc nhiều nhất thế giới |
| Bộ Nội vụ đề xuất quy định giờ làm việc, tiền làm thêm dịp lễ Tết và nâng mức vay vốn hỗ trợ việc làm |
Chiều 15/1, tại Hội thảo “Đánh giá 5 năm thực hiện Bộ luật Lao động 2019” do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức, GS.TS. Lê Vân Trình, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật An toàn, vệ sinh lao động Việt Nam, đã nêu đề xuất này trên cơ sở đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật lao động thời gian qua.
Theo GS.TS. Lê Vân Trình, sau 5 năm triển khai, Bộ luật Lao động 2019 đã cụ thể hóa khá đầy đủ các nguyên tắc bảo vệ người lao động trong tổ chức thời giờ làm việc và nghỉ ngơi. Pháp luật hiện hành quy định thời giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần, đồng thời Nhà nước khuyến khích thực hiện tuần làm việc 40 giờ.
![]() |
| Đề xuất giảm dần giờ làm việc, tiến tới tuần làm việc 40 giờ |
Các quy định về thời giờ nghỉ ngơi, gồm nghỉ giữa giờ, nghỉ hằng tuần, nghỉ lễ, Tết và nghỉ phép năm, được thiết kế theo hướng bảo đảm người lao động có điều kiện phục hồi sức lao động. Quyền được nghỉ ngơi ngày càng được nhìn nhận như một quyền lao động cơ bản, không đơn thuần là vấn đề phúc lợi hay sự linh hoạt của doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, tại nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, việc tuân thủ thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đã trở thành một tiêu chí quan trọng trong thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các yêu cầu, rào cản kỹ thuật từ thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc thi hành Bộ luật Lao động 2019 vẫn bộc lộ không ít vấn đề. Đáng chú ý, thời giờ làm việc bình thường ở mức 48 giờ/tuần vẫn phổ biến, nhất là trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Với cường độ lao động cao và kéo dài, nhiều người lao động phải đối mặt với tình trạng suy giảm sức khỏe, chất lượng cuộc sống và khả năng tái tạo sức lao động.
Từ thực tiễn này, vấn đề giảm giờ làm việc đã nhiều lần được các chuyên gia, tổ chức và đại biểu Quốc hội kiến nghị. Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, đại biểu Phạm Trọng Nghĩa (đoàn Lạng Sơn) từng đề nghị Chính phủ sớm trình Quốc hội xem xét giảm giờ làm việc bình thường trong khu vực doanh nghiệp từ 48 giờ xuống 44 giờ mỗi tuần, tiến tới còn 40 giờ, nhằm bảo vệ và phát triển bền vững nguồn nhân lực quốc gia.
Năm 2024, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng đề xuất giảm giờ làm việc với mục tiêu thu hẹp sự chênh lệch giữa khu vực hành chính, sự nghiệp nhà nước (40 giờ/tuần) và khu vực doanh nghiệp (48 giờ/tuần), đồng thời tạo điều kiện để người lao động có thêm thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc gia đình và bảo đảm cân bằng cuộc sống.
Ở bình diện quốc tế, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã ban hành Công ước số 47 về tuần làm việc 40 giờ, khẳng định xu hướng các quốc gia từng bước giảm giờ làm cho mọi loại hình công việc mà không làm suy giảm mức sống. Theo ILO, giới hạn thời giờ làm việc hợp lý không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe thể chất, tinh thần của người lao động mà còn góp phần nâng cao năng suất lao động.
Bên cạnh thời giờ làm việc bình thường cao, làm thêm giờ cũng được GS.TS. Lê Vân Trình đánh giá là vấn đề nổi cộm. Mặc dù pháp luật quy định rõ nguyên tắc tự nguyện, song trên thực tế, sự tự nguyện này ở không ít nơi còn mang tính hình thức. Nhiều người lao động buộc phải chấp nhận làm thêm giờ để bảo đảm thu nhập hoặc duy trì việc làm ổn định.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, làm thêm giờ kéo dài là yếu tố làm gia tăng đáng kể nguy cơ tai nạn lao động và suy giảm sức khỏe. Theo ILO, người lao động làm việc trên 48 giờ/tuần có nguy cơ tai nạn lao động cao hơn 20–30% so với nhóm làm việc trong thời gian tiêu chuẩn. Khi thời gian làm việc vượt quá 55 giờ/tuần, nguy cơ tai nạn lao động nghiêm trọng có thể tăng lên 35–40%, chủ yếu do mệt mỏi tích lũy, suy giảm khả năng tập trung và phản xạ.
Trong nước, nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho thấy, ở các ngành thâm dụng lao động như may mặc, da giày, chế biến thủy sản, điện tử, tai nạn lao động thường xảy ra nhiều vào cuối ca làm việc và trong các đợt cao điểm tăng ca. Người lao động làm thêm giờ thường xuyên từ 40–50 giờ mỗi tháng có tỷ lệ mắc các triệu chứng mệt mỏi mãn tính, đau đầu, giảm tập trung cao hơn rõ rệt so với nhóm làm thêm ít hoặc không làm thêm.
Từ đó, chuyên gia kiến nghị cần kiểm soát chặt chẽ việc làm thêm giờ, rà soát toàn diện các trường hợp tăng trần làm thêm, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu sản xuất, kinh doanh và sức khỏe người lao động. Việc quản lý làm thêm giờ cần được xem là một yếu tố nguy cơ về an toàn, vệ sinh lao động, gắn chặt với trách nhiệm của doanh nghiệp và vai trò giám sát của tổ chức công đoàn.