![]() |
| Đề xuất bổ sung cơ chế tính thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại. |
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các luật về thuế.
Điểm đáng chú ý của dự thảo là đề xuất bổ sung Điều 5a vào Nghị định số 50/2010/NĐ-CP, quy định cụ thể căn cứ tính thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại, bao gồm quặng nguyên khai, quặng tinh và khoáng sản đi kèm.
Theo dự thảo, thuế suất thuế tài nguyên sẽ được áp dụng tương ứng với từng loại sản phẩm dùng để xác định doanh thu tính thuế, gồm quặng nguyên khai và quặng tinh. Trường hợp sản phẩm bán ra chứa nhiều loại khoáng sản khác nhau, mức thuế suất được áp dụng là thuế suất của loại khoáng sản có mức thuế cao nhất.
Về doanh thu tính thuế, Bộ Tài chính đề xuất xác định là toàn bộ số tiền bán hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa, nhưng không thấp hơn doanh thu tính theo giá tính thuế do UBND cấp tỉnh ban hành.
Đối với doanh nghiệp kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, doanh thu tính thuế tài nguyên là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp kê khai theo phương pháp trực tiếp, doanh thu tính thuế sẽ bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.
Dự thảo cũng quy định, đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp hoặc trả chậm, doanh thu tính thuế được xác định theo giá bán trả tiền một lần, không bao gồm khoản lãi phát sinh do trả góp hoặc trả chậm.
Đối với sản phẩm sử dụng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ, doanh thu tính thuế được xác định theo giá bán của sản phẩm cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm phát sinh giao dịch.
Đối với doanh nghiệp vừa trực tiếp khai thác khoáng sản để chế biến, vừa mua quặng thô từ các đơn vị khác đã hoàn thành nghĩa vụ thuế tài nguyên để tiếp tục chế biến, Bộ Tài chính đưa ra hai phương án xác định doanh thu tính thuế.
Phương án thứ nhất xác định doanh thu theo tỷ lệ khối lượng khoáng sản thực tế khai thác trên tổng khối lượng khoáng sản đưa vào chế biến. Phương án thứ hai xác định doanh thu từ sản phẩm sau chế biến sau khi trừ giá trị phần khoáng sản mua ngoài đã thực hiện nghĩa vụ thuế tài nguyên.
Về thời điểm xác định doanh thu tính thuế, dự thảo quy định đối với hoạt động bán sản phẩm khoáng sản là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng sản phẩm cho người mua; đối với hàng hóa sử dụng để tiêu dùng nội bộ là thời điểm sản phẩm được đưa vào sử dụng.
Ngoài ra, dự thảo cũng bổ sung quy định đối với trường hợp sản phẩm bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên. Theo đó, căn cứ tính thuế sẽ là sản lượng quặng tinh đưa vào chế biến, giá tính thuế do UBND cấp tỉnh ban hành và thuế suất áp dụng đối với quặng tinh. Số thuế tài nguyên phải nộp được xác định trên cơ sở giá tính thuế nhân với sản lượng quặng tinh sử dụng trong kỳ và mức thuế suất tương ứng.
Theo Bộ Tài chính, việc sửa đổi, bổ sung các quy định này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản kim loại, tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, minh bạch trong xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.