| Bài liên quan |
| Nâng cấp hệ thống eCoSys, Bộ Công Thương tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu |
| Bộ Công Thương đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc vào vận hành, tăng cường minh bạch thị trường |
Trong bối cảnh nhu cầu phụ tải điện tiếp tục tăng cao, đồng thời yêu cầu chuyển dịch năng lượng theo hướng bền vững ngày càng cấp thiết, phát triển các dự án điện khí LNG nhập khẩu đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành năng lượng. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 56/2025/NĐ-CP và Nghị định số 100/2025/NĐ-CP, với nhiều điều chỉnh mang tính đột phá về cơ chế vận hành và bảo đảm đầu tư.
Một trong những rào cản lớn nhất đối với các dự án điện khí LNG hiện nay là khả năng thu xếp vốn và bảo đảm hiệu quả tài chính dài hạn. Qua tổng hợp ý kiến của các chủ đầu tư và hiệp hội ngành hàng, Bộ Công Thương cho biết quy định hiện hành về mức sản lượng điện hợp đồng và thời gian áp dụng chưa tương xứng với đặc thù của các dự án LNG – loại hình có suất đầu tư lớn, phụ thuộc mạnh vào vốn vay dài hạn từ các định chế tài chính quốc tế.
![]() |
| Bộ Công Thương kiến nghị bao tiêu tối thiểu 75% điện khí LNG trong 15 năm |
Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị định mới đề xuất sửa đổi khoản 4 Điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP, theo hướng nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn (Qc) của các dự án nhiệt điện khí LNG nhập khẩu lên không thấp hơn 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm, thay cho mức 65% hiện hành. Việc điều chỉnh này được đánh giá là cần thiết nhằm bảo đảm dòng tiền ổn định cho các dự án, tạo điều kiện để chủ đầu tư đáp ứng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay.
Cùng với việc nâng tỷ lệ Qc, thời gian áp dụng cơ chế bao tiêu sản lượng cũng được đề xuất kéo dài từ tối đa 10 năm lên tối đa 15 năm, tính từ thời điểm dự án vận hành thương mại và tham gia thị trường điện. Theo cơ quan soạn thảo, thời hạn này phù hợp với thông lệ và thực tiễn các hợp đồng tín dụng quốc tế đối với các dự án hạ tầng năng lượng quy mô lớn, vốn thường có thời gian vay từ 12 đến 15 năm. Quy định dự kiến áp dụng đối với các dự án vận hành trong giai đoạn từ khi Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực đến trước ngày 1/1/2031.
Cơ sở pháp lý cho đề xuất nêu trên được xác lập tại Luật Điện lực năm 2024, trong đó khoản 2 Điều 12 giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn và nguyên tắc chuyển ngang giá nhiên liệu vào giá điện theo từng thời kỳ. Đồng thời, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để triển khai các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách. Việc sửa đổi các nghị định lần này được xem là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn, tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để thúc đẩy điện khí LNG phát triển.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhiệt điện khí LNG giữ vai trò là nguồn điện nền quan trọng trong giai đoạn 2026–2030, với khả năng vận hành ổn định, linh hoạt, đặc biệt khi hệ thống điện ngày càng tích hợp tỷ trọng lớn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Trong các khung giờ cao điểm, nhất là buổi tối khi sản lượng điện tái tạo suy giảm, điện khí LNG được xác định là nguồn điện chủ lực nhằm bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, liên tục.
Bộ Công Thương cũng thừa nhận, việc áp dụng mức Qc 75% có thể tạo áp lực nhất định lên giá điện do chi phí LNG nhập khẩu biến động theo thị trường quốc tế. Tuy nhiên, theo đánh giá tác động chính sách, chi phí bảo đảm nguồn điện ổn định cho nền kinh tế vẫn thấp hơn rất nhiều so với thiệt hại do thiếu điện hoặc gián đoạn cung ứng điện. Mặt khác, các dự án điện khí LNG khi đi vào vận hành sẽ đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế, phí và thúc đẩy phát triển hạ tầng tại các địa phương.
Ở góc độ dài hạn, điện khí LNG được coi là “nguồn chuyển tiếp” quan trọng trong lộ trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam. So với nhiệt điện than, điện khí LNG có mức phát thải thấp hơn, góp phần thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 mà Chính phủ đã tuyên bố tại các diễn đàn quốc tế. Dự thảo Nghị định cũng làm rõ đối tượng áp dụng là các dự án điện độc lập (IPP), phù hợp với lộ trình phát triển thị trường điện cạnh tranh và phân biệt với các dự án BOT truyền thống.
Trong quá trình xây dựng, Bộ Công Thương cho biết dự thảo Nghị định đã được thực hiện đúng quy trình theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đăng tải công khai để lấy ý kiến rộng rãi và được Bộ Tư pháp thẩm định. Các quy định mới không làm phát sinh thủ tục hành chính, không xung đột với hệ thống pháp luật hiện hành và bảo đảm tương thích với các cam kết quốc tế của Việt Nam.