Thứ hai 18/05/2026 00:12
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Thương chiến Mỹ – Trung Quốc sẽ thay đổi vĩnh viễn luật chơi của thế giới

12/10/2020 00:00
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh chia sẻ những nhìn nhận của ông về diễn biến mới nhất trong thương chiến Mỹ – Trung Quốc cũng như cách mà nó sẽ làm t

Thương chiến Mỹ – Trung Quốc sẽ thay đổi vĩnh viễn luật chơi của thế giới

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh. Ảnh: Việt Khôi

Trong động thái mới nhất, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký chấp thuận tạm ngưng kế hoạch tăng thuế với 160 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ 15/12/2019, đây có thể nói là một diễn biến rất được thị trường chờ đợi sau nhiều tháng căng thẳng.

Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc đã kéo dài 20 tháng, mỗi quốc gia đã có nhiều phản ứng chính sách khác nhau. Trong lúc chờ đợi phán quyết cuối cùng của thỏa thuận thương mại giai đoạn một, đã đến lúc nhìn lại cách ứng phó của thế giới với cuộc chiến thương mại này cũng như chỉ ra những yếu tố mang tính định hình với thương mại và kinh tế thế giới.

BizLIVE mới đây đã có cuộc phỏng vấn với nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh, về nhận xét của ông với cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, quan điểm của ông về cách ứng phó của thế giới cũng như những dự báo về tương lai thương mại tài chính thế giới.

Ông nói gì trước ý kiến cho rằng thế giới thụ động trước diễn tiến, ảnh hưởng của cuộc xung đột này, khi mà điển hình như chính sách lãi suất nhanh chóng đảo chiều tại hàng loạt quốc gia, cũng như chính sách nới lỏng tiền tệ thể hiện rõ?

Nên để dịp khác bàn đến câu chuyện thế giới, vì chắc gì họ đã thụ động, chắc chắn họ phải theo sát lắm. Có lẽ cần nói nhiều hơn về câu chuyện Việt Nam. Chúng ta bị ảnh hưởng của cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung, nhưng chúng ta cũng vẫn đang có những điều kiện thuận, cả từ bên ngoài và bên trong, để quản trị các rủi ro. Ví dụ, chúng ta vẫn đang giữ được kinh tế vĩ mô ổn định, trong khi vẫn có điều kiện để tiếp tục hội nhập và phát triển quan hệ với cả hai nền kinh tế lớn nhất này.

Quay trở lại câu chuyện đồng tiền và lãi suất. Các nhà chuyên môn sẽ nói được kỹ hơn. Nhưng có thể thấy thế này. Trước tiên chúng ta luôn muốn có một đồng tiền ổn định, thêm nữa, chúng ta lại muốn có một đồng tiền hoạt động theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa rồi chúng ta đã làm như vậy và làm tốt chuyện đó.

Thứ hai, xét đến câu chuyện kinh tế vĩ mô, một đồng tiền trong bối cảnh kinh tế thương mại, muốn gì thì gì, nó phải tạo được niềm tin và phản ánh được giá trị của nền kinh tế của anh, chứ không phải theo một quyết định về hành chính, không phải cứ muốn tăng thì tăng, lúc thích giảm thì giảm.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta có trao đổi với rất nhiều nước trên thế giới. Người Mỹ họ cũng quan tâm việc các nước xử lý điều này lắm. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục làm rõ câu chuyện của chúng ta trong quản lý chính sách tiền tệ như vậy. Mỹ cũng đã phải công nhận VN cơ bản vận hành theo thị trường.

Đúng là nước Mỹ có chính sách theo dõi và kiểm tra xem nước nào có thao túng tiền tệ hay không, ví dụ như việc vào đầu tháng 8 vừa rồi, Trung Quốc làm yếu đồng nhân dân tệ xuống dưới mốc 7 nhân dân tệ/USD. Đây có cả câu chuyện kinh tế và chính trị. Vì vậy, nước nào cũng phải để ý.

Trong bối cảnh hiện nay chúng ta cũng đang cải cách kinh tế, phấn đấu theo kinh tế thị trường, quản lý nền kinh tế của đất nước theo kinh tế thị trường, vì vậy cần phải song hành ổn định kinh tế vĩ mô và hướng tới hoàn thiện theo kinh tế thị trường.

Tóm gọn lại tôi thấy rằng chúng ta đã quản lý nền kinh tế theo đúng định hướng của chúng ta, chúng ta đã vận hành quản lý chính sách tiền tệ theo kinh tế thị trường và quan trọng phải đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô. Khi trao đổi với các nước chúng ta cũng đã nói rất rõ định hướng chính sách này chứ không phải sự thay đổi cơ học hay thuần túy về hành chính.

Với Việt Nam, trong bối cảnh xung đột và ảnh hưởng đó, kinh tế vẫn tăng trưởng khả quan, vĩ mô ổn định... Điều này theo ông đến từ cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, các yếu tố nội tại và đặc biệt ở điều hành chính sách vĩ mô tại Việt Nam đã khẳng định giá trị, hiệu quả và tính hợp lý?

Phát triển của Việt Nam cần được xem xét heo chiều dài thời gian. Đó là quá trình 30 năm đổi mới, cùng với những cải cách về cơ chế và chính sách để vận hành theo nền kinh tế thị trường, điều đã giúp Việt Nam không ngừng phát triển vươn lên và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Rồi cải cách của chúng ta còn vượt qua cả lĩnh vực kinh tế mà còn cả chính trị và xã hội, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển.

Như vậy, một mặt, chúng ta có sức mạnh nội tại, để có thể quản trị rủi ro tốt hơn trước, nhưng mặt khác, trước các diễn biến khó lường của tình hình trong khi độ mở của nền kinh tế khá lớn, chúng ta cần phải theo sát tình hình, để có đối sách phù hợp.

Cạnh tranh thương mại Mỹ–Trung Quốc, hai nền kinh tế hàng đầu, chắc chắn đã và sẽ ảnh hưởng tới kinh tế, thương mại toàn cầu và kinh tế của nhiều nước khác. Việt Nam có quan hệ có quan hệ với cả hai nên cũng sẽ đứng trước nhiều rủi ro thách thức.

Phải nói bước đầu chúng ta đã có những giải pháp và chính sách phù hợp để ứng phó ngay với những thay đổi của tình hình. Chính phủ cũng đưa ra những quyết sách lâu dài về nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và sáng tạo, đồng thời tiếp tục ủng hộ và đẩy mạnh việc mở cửa và hội nhập, hội nhập ở mức cao hơn và sâu rộng. Điều đó tạo cho chúng ta gắn kết và có thể vươn lên ở vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như đa dạng hoá quan hệ với bên ngoài, với các trung tâm kinh tế lớn của thế giới.

Chính bản thân doanh nghiệp Việt Nam bước đầu cũng đã khá nhanh nhạy trong nắm bắt và ứng phó với thay đổi của tình hình. Nhưng đó là với những tập đoàn lớn, còn các doanh nghiệp nhỏ và vừa chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Trải qua cuộc xung đột này, ông nói gì về yếu tố kinh nghiệm và từng trải của nhà quản lý lẫn các chủ thể trong nền kinh tế, trên thị trường đã vững vàng hơn sau những gì đã trải qua cuộc những cuộc khủng hoảng trước đó, dù so sánh có thể khập khiễng?

Trước những thay đổi mới này, chúng ta thấy có cả cái mới, khó lường, có cả cái đã xuất hiện từ nhiều năm. Cái kinh nghiệm lớn nhất, có lẽ sẽ ở chỗ: Có một nền kinh tế nội lực mạnh, song hành với kinh nghiệm làm tốt để ứng phó với rủi ro. Xin đơn cử: Chủ nghĩa bảo hộ và toàn cầu hoá vốn luôn song hành, rồi phản ứng đối với toàn cầu hóa có lẽ nó đã tồn tại cả hàng chục năm nay rồi chứ không phải bây giờ. Nhưng đến khi nước Mỹ có Tổng thống Trump và rồi có Brexit, nó đã tạo ra những cái mà đột biến về chính sách, bất ổn và khó lường hơn, nhất là lại của các nền kinh tế lớn, thì nó tác động nhiều lắm.

Trong bối cảnh như vậy, lại phù hợp với nền kinh tế của mình. Thứ nhất là đổi mới và hội nhập. Đây là cái mà chúng ta rất kiên định và quyết liệt. Và chúng ta lại có cái thuận lợi, đó là chúng ta có cái đà của hơn 30 năm cải cách vừa qua, hiện đang có nhiều thỏa thuận FTA quan trọng và lại có môi trường hội nhập của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương. Câu chuyện thứ hai quyết tâm và nỗ lực ngày càng hoàn thiện thể chế và sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Cái thứ ba là quản trị rủi ro. Với nhà quản lý, đó là câu chuyện thường xuyên phải xử lý và thích ứng.

Cái cần nêu thêm ở đây là không chỉ đề phòng, ứng phó với rủi ro, mà quan trọng hơn, đó là câu chuyện cơ hội, phải tranh thủ và chớp lấy cơ hội như thế nào khi thế giới đang có nhiều biến đổi, chắc chắn đây sẽ là bài toán lớn hơn. Trong cái vận động phức tạp hiện nay, cá nhân tôi cho rằng, chúng ta đang có những cơ hội lớn lắm, để chúng ta đa dạng hoá quan hệ, đa dạng hoá chuỗi cung ứng và thị trường, và nhất là vươn lên hơn nữa trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực. Điều này đòi hỏi cả ở tầm quyết sách vĩ mô, cũng như ở cấp các doanh nghiệp.

Ông Phạm Quang Vinh. Ảnh: Việt Khôi

Cái cạnh tranh nước lớn hiện nay cũng đặt ra nhiều thứ cần lưu tâm. Luật chơi của thế giới sẽ thay đổi. Không chỉ dùng công cụ thuế quan, Mỹ-Trung còn cạnh tranh nhau về mô hình phát triển. Mỹ cũng sẽ không chấp nhận Trung Quốc cứ mãi là nước được hưởng qui chế đang phát triển’, mà theo quy chế một nền kinh tế phát triển, vậy thì các ưu đãi mà trước đây Trung Quốc được hưởng với tư cách một nước đang phát triển để thâm nhập vào thị trường Mỹ và các nước khác sẽ không còn như cũ.

Mặt khác, trở lại câu chuyện trả đũa thuế quan Mỹ-Trung, chúng ta đã và sẽ phải tiếp tục đề phòng việc gian lận thương mại, đội lốt nhãn mác hàng hoá VN.

Cả cái ngắn và dài hạn này liên quan đến hàm lượng Trung Quốc trong hàng hóa của nước khác, trong hàng hoá của VN, là cái cần phải cân nhắc, sẵn sàng các phương án cho những điều thay đổi có thể xảy ra đó.

Cái câu chuyện cạnh tranh về mô hình phát triển cũng vậy, nó có cả chuyện kinh tế và chính trị, nhưng có một cái là hướng tới kinh tế thị trường, các qui định của WTO ra sao, rồi câu chuyện minh bạch, bền vững, bảo vệ môi trường như thế nào, vẫn là cái chủ đạo sắp tới, dù đó là mô hình phát triển nào, của Âu, Mỹ hay của Trung Quốc, thì rồi cũng sẽ phải như vậy.

Cuộc cạnh tranh và những vận động hiện nay có thể dẫn đến những thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu và phân công lao động mới, thậm chí có thể lúc này lúc khác làm gián đoạn thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Như vậy, nó có cái rủi ro, nhưng cũng xuất hiện những cơ hội lớn, để vươn lên và tham gia tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

Chúng ta đã và đang có những quyết sách lớn và rất quan trọng, đó là đẩy mạnh hơn nữa đổi mới, hội nhập và nâng cao về chất năng lực của nền kinh tế, dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và sáng tạo, tạo ra sức bền vững và sức cạnh tranh lớn hơn, để đa dạng hoá và ranh thủ tốt hơn môi trường kinh tế mới, để tiếp tục hội nhập nhưng lựa chọn hệ giá trị, chuỗi giá trị cao hơn, bền vững hơn.

Ông có thể chia sẻ dự tính của mình về khả năng những điểm đến, mốc thời gian cũng như những khả năng tác động tiếp theo của xung đột Mỹ – Trung Quốc?

Trước hết về cạnh tranh thương mại, hai bên Mỹ-Trung, nhất là Mỹ, đánh thuế nhau không phải để triệt tiêu nhau mà để giành cái có lợi hơn cho mình. Cuộc cạnh tranh thương mại đã gia tăng suốt từ tháng 3 năm ngoái đến nay, nó không thể gia tăng mãi được.

Ngọc Diệp

Bài liên quan
Tin bài khác
WB hạ dự báo tăng trưởng Việt Nam 2026 xuống còn 6,8%

WB hạ dự báo tăng trưởng Việt Nam 2026 xuống còn 6,8%

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn, Ngân hàng Thế giới (WB) đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 xuống còn 6,8%.
Ngành Hải quan thu hơn 166 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5%

Ngành Hải quan thu hơn 166 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5%

Ngành Hải quan thu ngân sách đạt 166.301 tỷ đồng, bằng 36,9% dự toán được giao và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước. Con số này tương ứng tăng hơn 23.500 tỷ đồng so với 4 tháng đầu năm 2025.
Đắk Lắk tìm giải pháp đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Đắk Lắk tìm giải pháp đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Đắk Lắk đang thúc đẩy sắp xếp, cổ phần hóa và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, xử lý vướng mắc đất đai, tài chính và tinh gọn bộ máy.
An Giang: Phát triển Phú Quốc, Thổ Châu nằm trong hành lang kinh tế chủ đạo

An Giang: Phát triển Phú Quốc, Thổ Châu nằm trong hành lang kinh tế chủ đạo

Trong quy hoạch, An Giang sẽ ưu tiên hình thành các cực tăng trưởng, vùng động lực và hành lang kinh tế chủ đạo: Phú Quốc, Thổ Châu, Châu Đốc - Tịnh Biên - Hà Tiên, Rạch Giá - Long Xuyên - Châu Đốc, đồng thời bảo đảm phát triển hài hòa giữa các tiểu vùng.
Khung giá phát điện thủy điện 2026 chính thức được ban hành, cao nhất 1.110 đồng/kWh

Khung giá phát điện thủy điện 2026 chính thức được ban hành, cao nhất 1.110 đồng/kWh

Khung giá phát điện thủy điện năm 2026 vừa được Bộ Công Thương phê duyệt, với mức tối đa 1.110 đồng/kWh, tạo cơ sở cho đàm phán hợp đồng mua bán điện và vận hành minh bạch thị trường điện năng.
Bộ Công Thương đề xuất lập Cục Năng lượng - Dầu khí, bổ sung nhiệm vụ an ninh năng lượng quốc gia

Bộ Công Thương đề xuất lập Cục Năng lượng - Dầu khí, bổ sung nhiệm vụ an ninh năng lượng quốc gia

Bộ Công Thương đang đề xuất thành lập Cục Năng lượng - Dầu khí trên cơ sở tổ chức lại Vụ Dầu khí và Than, đồng thời bổ sung nhiều chức năng mới liên quan đến năng lượng ngoài khơi, chuyển dịch năng lượng và an ninh năng lượng quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ: Bộ trưởng chịu trách nhiệm nếu nợ ban hành thông tư

Thủ tướng Chính phủ: Bộ trưởng chịu trách nhiệm nếu nợ ban hành thông tư

Trước tình trạng một số Bộ, ngành chậm tiến độ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, văn bản chỉ đạo mới nhất từ Chính phủ đã yêu cầu gắn chặt trách nhiệm người đứng đầu vào kỷ cương lập pháp.
Việt Nam - Malaysia mở rộng liên kết doanh nghiệp, hướng tới chuỗi cung ứng xanh và thông minh

Việt Nam - Malaysia mở rộng liên kết doanh nghiệp, hướng tới chuỗi cung ứng xanh và thông minh

Diễn đàn xúc tiến thương mại Việt Nam - Malaysia diễn ra tại Kuala Lumpur đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế số, logistics, công nghiệp Halal và chuỗi cung ứng bền vững. Các chuyên gia đánh giá, sự bổ trợ giữa hai nền kinh tế sẽ là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 20 tỷ USD trong thời gian tới.
TP. Hồ Chí Minh và tham vọng trở thành “hub” tài chính mới của Đông Nam Á

TP. Hồ Chí Minh và tham vọng trở thành “hub” tài chính mới của Đông Nam Á

Không chỉ dừng ở mục tiêu xây dựng một trung tâm giao dịch tài chính đơn thuần, TP. Hồ Chí Minh đang định hình một hệ sinh thái tài chính quốc tế hoàn chỉnh với pháp lý riêng, dòng vốn xuyên biên giới, tài chính hàng hải, fintech và thị trường vốn quy mô lớn. Trong chiến lược đó, thành phố kỳ vọng trở thành một trong những trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu Đông Nam Á trong vòng 5 năm tới.
WB khuyến nghị Việt Nam phát triển thị trường vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư công

WB khuyến nghị Việt Nam phát triển thị trường vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư công

Ngân hàng Thế giới đánh giá kinh tế Việt Nam duy trì sức chống chịu tốt nhưng cần đẩy nhanh cải cách, phát triển thị trường vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư công để đảm bảo tăng trưởng dài hạn bền vững.
Giao chỉ tiêu tăng trưởng từng địa phương để hiện thực hóa mục tiêu kinh tế hai con số

Giao chỉ tiêu tăng trưởng từng địa phương để hiện thực hóa mục tiêu kinh tế hai con số

Chính phủ đẩy mạnh phân giao chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho các bộ, ngành, địa phương nhằm tạo động lực tăng trưởng, hướng tới mục tiêu hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030.
Chính phủ yêu cầu nghiên cứu đề xuất lập Quỹ Tăng trưởng, xây siêu tập đoàn "dẫn dắt"

Chính phủ yêu cầu nghiên cứu đề xuất lập Quỹ Tăng trưởng, xây siêu tập đoàn "dẫn dắt"

Trong bối cảnh Việt Nam tăng tốc hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, bài toán hình thành những "sếu đầu đàn" nội địa đủ tầm dẫn dắt các chuỗi giá trị toàn cầu trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Động thái chỉ đạo hỏa tốc của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đối với loạt ộ, ngành để mổ xẻ các kiến nghị của VAFIE được kỳ vọng sẽ kích hoạt một làn sóng cải cách thể chế và khơi thông dòng vốn quy mô lớn chưa từng có.
Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng: Giảm chi phí thời gian cho doanh nghiệp, người dân trong xử lý công việc

Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng: Giảm chi phí thời gian cho doanh nghiệp, người dân trong xử lý công việc

Chiều 15/5, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng đã có buổi làm việc với Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ 4 tháng đầu năm và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm 2026.
Thủ tướng: Cắt giảm nhanh 4 nhóm thủ tục hành chính cản trở doanh nghiệp

Thủ tướng: Cắt giảm nhanh 4 nhóm thủ tục hành chính cản trở doanh nghiệp

Một mệnh lệnh hành động quyết liệt vừa được phát đi từ người đứng đầu Chính phủ nhằm triệt tiêu các rào cản thủ tục đang bóp nghẹt dòng vốn đầu tư. Tại Công văn số 4408/VPCP-CĐS, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu các Bộ, ngành liên quan phải lập tức vào cuộc hậu kiểm, rà soát và cắt giảm mạnh mẽ chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, mở đường cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế bứt phá.
Cần có những giải pháp hữu hiệu quản lý mã số vùng trồng và kiểm nghiệm nông sản xuất khẩu

Cần có những giải pháp hữu hiệu quản lý mã số vùng trồng và kiểm nghiệm nông sản xuất khẩu

Mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG) được coi là “tấm vé thông hành” để đưa nông sản vươn xa, nâng cao giá trị, vị thế của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên để lợi thế này thực sự trở thành cơ hội đưa nông sản "xuất ngoại", đồng thời giữ được uy tín cho nông sản địa phương nói riêng và Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế thì việc quản lý MSVT, MSCSĐG và kiểm nghiệm chất lượng nông sản cần phải được bảo đảm nghiêm ngặt.