Thứ năm 13/08/2026 02:25
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Thương chiến Mỹ – Trung Quốc sẽ thay đổi vĩnh viễn luật chơi của thế giới

12/10/2020 00:00
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh chia sẻ những nhìn nhận của ông về diễn biến mới nhất trong thương chiến Mỹ – Trung Quốc cũng như cách mà nó sẽ làm t

Thương chiến Mỹ – Trung Quốc sẽ thay đổi vĩnh viễn luật chơi của thế giới

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh. Ảnh: Việt Khôi

Trong động thái mới nhất, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký chấp thuận tạm ngưng kế hoạch tăng thuế với 160 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ 15/12/2019, đây có thể nói là một diễn biến rất được thị trường chờ đợi sau nhiều tháng căng thẳng.

Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc đã kéo dài 20 tháng, mỗi quốc gia đã có nhiều phản ứng chính sách khác nhau. Trong lúc chờ đợi phán quyết cuối cùng của thỏa thuận thương mại giai đoạn một, đã đến lúc nhìn lại cách ứng phó của thế giới với cuộc chiến thương mại này cũng như chỉ ra những yếu tố mang tính định hình với thương mại và kinh tế thế giới.

BizLIVE mới đây đã có cuộc phỏng vấn với nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh, về nhận xét của ông với cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, quan điểm của ông về cách ứng phó của thế giới cũng như những dự báo về tương lai thương mại tài chính thế giới.

Ông nói gì trước ý kiến cho rằng thế giới thụ động trước diễn tiến, ảnh hưởng của cuộc xung đột này, khi mà điển hình như chính sách lãi suất nhanh chóng đảo chiều tại hàng loạt quốc gia, cũng như chính sách nới lỏng tiền tệ thể hiện rõ?

Nên để dịp khác bàn đến câu chuyện thế giới, vì chắc gì họ đã thụ động, chắc chắn họ phải theo sát lắm. Có lẽ cần nói nhiều hơn về câu chuyện Việt Nam. Chúng ta bị ảnh hưởng của cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung, nhưng chúng ta cũng vẫn đang có những điều kiện thuận, cả từ bên ngoài và bên trong, để quản trị các rủi ro. Ví dụ, chúng ta vẫn đang giữ được kinh tế vĩ mô ổn định, trong khi vẫn có điều kiện để tiếp tục hội nhập và phát triển quan hệ với cả hai nền kinh tế lớn nhất này.

Quay trở lại câu chuyện đồng tiền và lãi suất. Các nhà chuyên môn sẽ nói được kỹ hơn. Nhưng có thể thấy thế này. Trước tiên chúng ta luôn muốn có một đồng tiền ổn định, thêm nữa, chúng ta lại muốn có một đồng tiền hoạt động theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa rồi chúng ta đã làm như vậy và làm tốt chuyện đó.

Thứ hai, xét đến câu chuyện kinh tế vĩ mô, một đồng tiền trong bối cảnh kinh tế thương mại, muốn gì thì gì, nó phải tạo được niềm tin và phản ánh được giá trị của nền kinh tế của anh, chứ không phải theo một quyết định về hành chính, không phải cứ muốn tăng thì tăng, lúc thích giảm thì giảm.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta có trao đổi với rất nhiều nước trên thế giới. Người Mỹ họ cũng quan tâm việc các nước xử lý điều này lắm. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục làm rõ câu chuyện của chúng ta trong quản lý chính sách tiền tệ như vậy. Mỹ cũng đã phải công nhận VN cơ bản vận hành theo thị trường.

Đúng là nước Mỹ có chính sách theo dõi và kiểm tra xem nước nào có thao túng tiền tệ hay không, ví dụ như việc vào đầu tháng 8 vừa rồi, Trung Quốc làm yếu đồng nhân dân tệ xuống dưới mốc 7 nhân dân tệ/USD. Đây có cả câu chuyện kinh tế và chính trị. Vì vậy, nước nào cũng phải để ý.

Trong bối cảnh hiện nay chúng ta cũng đang cải cách kinh tế, phấn đấu theo kinh tế thị trường, quản lý nền kinh tế của đất nước theo kinh tế thị trường, vì vậy cần phải song hành ổn định kinh tế vĩ mô và hướng tới hoàn thiện theo kinh tế thị trường.

Tóm gọn lại tôi thấy rằng chúng ta đã quản lý nền kinh tế theo đúng định hướng của chúng ta, chúng ta đã vận hành quản lý chính sách tiền tệ theo kinh tế thị trường và quan trọng phải đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô. Khi trao đổi với các nước chúng ta cũng đã nói rất rõ định hướng chính sách này chứ không phải sự thay đổi cơ học hay thuần túy về hành chính.

Với Việt Nam, trong bối cảnh xung đột và ảnh hưởng đó, kinh tế vẫn tăng trưởng khả quan, vĩ mô ổn định... Điều này theo ông đến từ cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, các yếu tố nội tại và đặc biệt ở điều hành chính sách vĩ mô tại Việt Nam đã khẳng định giá trị, hiệu quả và tính hợp lý?

Phát triển của Việt Nam cần được xem xét heo chiều dài thời gian. Đó là quá trình 30 năm đổi mới, cùng với những cải cách về cơ chế và chính sách để vận hành theo nền kinh tế thị trường, điều đã giúp Việt Nam không ngừng phát triển vươn lên và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Rồi cải cách của chúng ta còn vượt qua cả lĩnh vực kinh tế mà còn cả chính trị và xã hội, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển.

Như vậy, một mặt, chúng ta có sức mạnh nội tại, để có thể quản trị rủi ro tốt hơn trước, nhưng mặt khác, trước các diễn biến khó lường của tình hình trong khi độ mở của nền kinh tế khá lớn, chúng ta cần phải theo sát tình hình, để có đối sách phù hợp.

Cạnh tranh thương mại Mỹ–Trung Quốc, hai nền kinh tế hàng đầu, chắc chắn đã và sẽ ảnh hưởng tới kinh tế, thương mại toàn cầu và kinh tế của nhiều nước khác. Việt Nam có quan hệ có quan hệ với cả hai nên cũng sẽ đứng trước nhiều rủi ro thách thức.

Phải nói bước đầu chúng ta đã có những giải pháp và chính sách phù hợp để ứng phó ngay với những thay đổi của tình hình. Chính phủ cũng đưa ra những quyết sách lâu dài về nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và sáng tạo, đồng thời tiếp tục ủng hộ và đẩy mạnh việc mở cửa và hội nhập, hội nhập ở mức cao hơn và sâu rộng. Điều đó tạo cho chúng ta gắn kết và có thể vươn lên ở vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như đa dạng hoá quan hệ với bên ngoài, với các trung tâm kinh tế lớn của thế giới.

Chính bản thân doanh nghiệp Việt Nam bước đầu cũng đã khá nhanh nhạy trong nắm bắt và ứng phó với thay đổi của tình hình. Nhưng đó là với những tập đoàn lớn, còn các doanh nghiệp nhỏ và vừa chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Trải qua cuộc xung đột này, ông nói gì về yếu tố kinh nghiệm và từng trải của nhà quản lý lẫn các chủ thể trong nền kinh tế, trên thị trường đã vững vàng hơn sau những gì đã trải qua cuộc những cuộc khủng hoảng trước đó, dù so sánh có thể khập khiễng?

Trước những thay đổi mới này, chúng ta thấy có cả cái mới, khó lường, có cả cái đã xuất hiện từ nhiều năm. Cái kinh nghiệm lớn nhất, có lẽ sẽ ở chỗ: Có một nền kinh tế nội lực mạnh, song hành với kinh nghiệm làm tốt để ứng phó với rủi ro. Xin đơn cử: Chủ nghĩa bảo hộ và toàn cầu hoá vốn luôn song hành, rồi phản ứng đối với toàn cầu hóa có lẽ nó đã tồn tại cả hàng chục năm nay rồi chứ không phải bây giờ. Nhưng đến khi nước Mỹ có Tổng thống Trump và rồi có Brexit, nó đã tạo ra những cái mà đột biến về chính sách, bất ổn và khó lường hơn, nhất là lại của các nền kinh tế lớn, thì nó tác động nhiều lắm.

Trong bối cảnh như vậy, lại phù hợp với nền kinh tế của mình. Thứ nhất là đổi mới và hội nhập. Đây là cái mà chúng ta rất kiên định và quyết liệt. Và chúng ta lại có cái thuận lợi, đó là chúng ta có cái đà của hơn 30 năm cải cách vừa qua, hiện đang có nhiều thỏa thuận FTA quan trọng và lại có môi trường hội nhập của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương. Câu chuyện thứ hai quyết tâm và nỗ lực ngày càng hoàn thiện thể chế và sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Cái thứ ba là quản trị rủi ro. Với nhà quản lý, đó là câu chuyện thường xuyên phải xử lý và thích ứng.

Cái cần nêu thêm ở đây là không chỉ đề phòng, ứng phó với rủi ro, mà quan trọng hơn, đó là câu chuyện cơ hội, phải tranh thủ và chớp lấy cơ hội như thế nào khi thế giới đang có nhiều biến đổi, chắc chắn đây sẽ là bài toán lớn hơn. Trong cái vận động phức tạp hiện nay, cá nhân tôi cho rằng, chúng ta đang có những cơ hội lớn lắm, để chúng ta đa dạng hoá quan hệ, đa dạng hoá chuỗi cung ứng và thị trường, và nhất là vươn lên hơn nữa trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực. Điều này đòi hỏi cả ở tầm quyết sách vĩ mô, cũng như ở cấp các doanh nghiệp.

Ông Phạm Quang Vinh. Ảnh: Việt Khôi

Cái cạnh tranh nước lớn hiện nay cũng đặt ra nhiều thứ cần lưu tâm. Luật chơi của thế giới sẽ thay đổi. Không chỉ dùng công cụ thuế quan, Mỹ-Trung còn cạnh tranh nhau về mô hình phát triển. Mỹ cũng sẽ không chấp nhận Trung Quốc cứ mãi là nước được hưởng qui chế đang phát triển’, mà theo quy chế một nền kinh tế phát triển, vậy thì các ưu đãi mà trước đây Trung Quốc được hưởng với tư cách một nước đang phát triển để thâm nhập vào thị trường Mỹ và các nước khác sẽ không còn như cũ.

Mặt khác, trở lại câu chuyện trả đũa thuế quan Mỹ-Trung, chúng ta đã và sẽ phải tiếp tục đề phòng việc gian lận thương mại, đội lốt nhãn mác hàng hoá VN.

Cả cái ngắn và dài hạn này liên quan đến hàm lượng Trung Quốc trong hàng hóa của nước khác, trong hàng hoá của VN, là cái cần phải cân nhắc, sẵn sàng các phương án cho những điều thay đổi có thể xảy ra đó.

Cái câu chuyện cạnh tranh về mô hình phát triển cũng vậy, nó có cả chuyện kinh tế và chính trị, nhưng có một cái là hướng tới kinh tế thị trường, các qui định của WTO ra sao, rồi câu chuyện minh bạch, bền vững, bảo vệ môi trường như thế nào, vẫn là cái chủ đạo sắp tới, dù đó là mô hình phát triển nào, của Âu, Mỹ hay của Trung Quốc, thì rồi cũng sẽ phải như vậy.

Cuộc cạnh tranh và những vận động hiện nay có thể dẫn đến những thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu và phân công lao động mới, thậm chí có thể lúc này lúc khác làm gián đoạn thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Như vậy, nó có cái rủi ro, nhưng cũng xuất hiện những cơ hội lớn, để vươn lên và tham gia tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

Chúng ta đã và đang có những quyết sách lớn và rất quan trọng, đó là đẩy mạnh hơn nữa đổi mới, hội nhập và nâng cao về chất năng lực của nền kinh tế, dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và sáng tạo, tạo ra sức bền vững và sức cạnh tranh lớn hơn, để đa dạng hoá và ranh thủ tốt hơn môi trường kinh tế mới, để tiếp tục hội nhập nhưng lựa chọn hệ giá trị, chuỗi giá trị cao hơn, bền vững hơn.

Ông có thể chia sẻ dự tính của mình về khả năng những điểm đến, mốc thời gian cũng như những khả năng tác động tiếp theo của xung đột Mỹ – Trung Quốc?

Trước hết về cạnh tranh thương mại, hai bên Mỹ-Trung, nhất là Mỹ, đánh thuế nhau không phải để triệt tiêu nhau mà để giành cái có lợi hơn cho mình. Cuộc cạnh tranh thương mại đã gia tăng suốt từ tháng 3 năm ngoái đến nay, nó không thể gia tăng mãi được.

Ngọc Diệp

Bài liên quan
Tin bài khác
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành chuyển từ việc trả lời kiến nghị sang xử lý đến cùng, xác định rõ đầu mối, thời hạn và giải pháp để doanh nghiệp thực sự tháo gỡ được khó khăn.
ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề xuất công nhận kết quả thăm dò và cho phép khai thác từng phần đối với khu vực đã xác định đủ điều kiện, ĐBQH Thái Thị An Chung cho rằng giải pháp này có thể rút ngắn thời gian cung ứng vật liệu cho các dự án, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản.
Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm và kỹ năng lao động, hướng tới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349 km nhưng giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên khoảng 116 km. Trong bối cảnh ngân sách trung ương dự kiến bố trí 59.700 tỷ đồng, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải tính kỹ thứ tự đầu tư để vốn bỏ ra sớm tạo hiệu quả.
8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

Hơn 4.900 dự án tồn đọng đã hoàn thành tháo gỡ khó khăn, giúp giải phóng lượng lớn đất đai và nguồn vốn. Tuy nhiên, kết quả pháp lý mới là bước đầu, bởi không ít dự án vẫn chưa thực sự vận hành trở lại.
Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Từ lợi thế về chi phí, chất lượng dịch vụ và các chuyên khoa thế mạnh, Việt Nam đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, hướng tới đón khoảng 750.000 lượt khách quốc tế vào năm 2030 và tạo doanh thu trực tiếp từ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe khoảng 1 tỷ USD.
Bắc Ninh hút 2,73 tỷ USD FDI: Từ lợi thế dòng vốn đến bài toán giá trị giữ lại

Bắc Ninh hút 2,73 tỷ USD FDI: Từ lợi thế dòng vốn đến bài toán giá trị giữ lại

Hơn 2,73 tỷ USD vốn FDI, sản xuất công nghiệp tăng 19,6%, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 128,2 tỷ USD. Những con số sau 7 tháng cho thấy sức hút đầu tư của Bắc Ninh đang được chuyển hóa khá rõ vào hoạt động sản xuất. Khi dòng vốn tiếp tục tìm đến điện tử, bán dẫn và công nghệ cao, câu chuyện FDI của địa phương cũng đang bước sang một nấc mới về chất lượng và chiều sâu.
Ban hành 14 định mức mới mở đường cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Ban hành 14 định mức mới mở đường cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng ban hành 14 định mức dự toán riêng, tạo cơ sở tính chi phí cho tuyến đường sắt điện khí hóa đầu tiên Việt Nam, chuẩn bị triển khai dự án quy mô lớn.
Bộ Xây dựng tăng tốc làm sạch dữ liệu, mở đường cho chuyển đổi số toàn ngành

Bộ Xây dựng tăng tốc làm sạch dữ liệu, mở đường cho chuyển đổi số toàn ngành

Sau 20 ngày triển khai kế hoạch 100 ngày, Bộ Xây dựng đã hoàn thành một nhiệm vụ, đẩy nhanh làm sạch dữ liệu, kết nối VNeID và nâng cấp hệ thống số.
ĐBQH đề xuất mở rộng cơ chế để Trung tâm tài chính quốc tế dẫn vốn vào nền kinh tế

ĐBQH đề xuất mở rộng cơ chế để Trung tâm tài chính quốc tế dẫn vốn vào nền kinh tế

Các đại biểu Quốc hội cho rằng Trung tâm tài chính quốc tế cần được trao thêm công cụ để huy động, phân bổ và dẫn dắt dòng vốn quốc tế vào các dự án, doanh nghiệp trong nước, qua đó phát huy vai trò động lực tăng trưởng mới.
Kho bạc Nhà nước huy động hơn 201.000 tỷ đồng qua trái phiếu sau 7 tháng

Kho bạc Nhà nước huy động hơn 201.000 tỷ đồng qua trái phiếu sau 7 tháng

Lũy kế đến hết tháng 7/2026, Kho bạc Nhà nước đã huy động gần 201.165 tỷ đồng qua phát hành trái phiếu chính phủ, tương đương hơn 40% kế hoạch năm. Riêng tháng 7, lợi suất trái phiếu tại các kỳ hạn chủ yếu tăng nhẹ so với các phiên cuối tháng 5.
Bộ Xây dựng chốt quy mô cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng: Hơn 82km, vốn đầu tư hơn 29.000 tỷ đồng

Bộ Xây dựng chốt quy mô cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng: Hơn 82km, vốn đầu tư hơn 29.000 tỷ đồng

Một tuyến cao tốc mới đang dần định hình trên bản đồ hạ tầng phía Bắc khi Bộ Xây dựng đánh giá phương án đầu tư cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng với quy mô 4 làn xe là phù hợp với quy hoạch, tiêu chuẩn và nhu cầu vận tải.
Doanh nghiệp cần dòng vốn đủ dài để không lỡ cơ hội tăng trưởng

Doanh nghiệp cần dòng vốn đủ dài để không lỡ cơ hội tăng trưởng

Tín dụng toàn nền kinh tế đã đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, nhưng bài toán doanh nghiệp quan tâm lúc này không chỉ là có thêm vốn. Điều họ cần là nguồn vốn có chi phí hợp lý, thời hạn đủ dài và một cơ chế đánh giá phản ánh đúng năng lực kinh doanh thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Hải Phòng kết nối sức mạnh công thương phía Bắc, mở rộng không gian phát triển

Hải Phòng kết nối sức mạnh công thương phía Bắc, mở rộng không gian phát triển

Chuỗi sự kiện ngành Công Thương năm 2026 tại Hải Phòng không chỉ là diễn đàn đánh giá kết quả, tháo gỡ khó khăn mà còn mở ra không gian kết nối mới giữa các địa phương khu vực phía Bắc, từ sản xuất, thương mại đến thương mại điện tử và logistics.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa mở cơ hội vay vốn không cần tài sản thế chấp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa mở cơ hội vay vốn không cần tài sản thế chấp

Thay vì phụ thuộc vào bất động sản thế chấp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đề xuất được ngân hàng đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và dữ liệu được kiểm chứng.