Thứ ba 10/03/2026 06:35
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Thương chiến Mỹ – Trung Quốc sẽ thay đổi vĩnh viễn luật chơi của thế giới

12/10/2020 00:00
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh chia sẻ những nhìn nhận của ông về diễn biến mới nhất trong thương chiến Mỹ – Trung Quốc cũng như cách mà nó sẽ làm t

Thương chiến Mỹ – Trung Quốc sẽ thay đổi vĩnh viễn luật chơi của thế giới

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh. Ảnh: Việt Khôi

Trong động thái mới nhất, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký chấp thuận tạm ngưng kế hoạch tăng thuế với 160 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ 15/12/2019, đây có thể nói là một diễn biến rất được thị trường chờ đợi sau nhiều tháng căng thẳng.

Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc đã kéo dài 20 tháng, mỗi quốc gia đã có nhiều phản ứng chính sách khác nhau. Trong lúc chờ đợi phán quyết cuối cùng của thỏa thuận thương mại giai đoạn một, đã đến lúc nhìn lại cách ứng phó của thế giới với cuộc chiến thương mại này cũng như chỉ ra những yếu tố mang tính định hình với thương mại và kinh tế thế giới.

BizLIVE mới đây đã có cuộc phỏng vấn với nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Phạm Quang Vinh, về nhận xét của ông với cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, quan điểm của ông về cách ứng phó của thế giới cũng như những dự báo về tương lai thương mại tài chính thế giới.

Ông nói gì trước ý kiến cho rằng thế giới thụ động trước diễn tiến, ảnh hưởng của cuộc xung đột này, khi mà điển hình như chính sách lãi suất nhanh chóng đảo chiều tại hàng loạt quốc gia, cũng như chính sách nới lỏng tiền tệ thể hiện rõ?

Nên để dịp khác bàn đến câu chuyện thế giới, vì chắc gì họ đã thụ động, chắc chắn họ phải theo sát lắm. Có lẽ cần nói nhiều hơn về câu chuyện Việt Nam. Chúng ta bị ảnh hưởng của cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung, nhưng chúng ta cũng vẫn đang có những điều kiện thuận, cả từ bên ngoài và bên trong, để quản trị các rủi ro. Ví dụ, chúng ta vẫn đang giữ được kinh tế vĩ mô ổn định, trong khi vẫn có điều kiện để tiếp tục hội nhập và phát triển quan hệ với cả hai nền kinh tế lớn nhất này.

Quay trở lại câu chuyện đồng tiền và lãi suất. Các nhà chuyên môn sẽ nói được kỹ hơn. Nhưng có thể thấy thế này. Trước tiên chúng ta luôn muốn có một đồng tiền ổn định, thêm nữa, chúng ta lại muốn có một đồng tiền hoạt động theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa rồi chúng ta đã làm như vậy và làm tốt chuyện đó.

Thứ hai, xét đến câu chuyện kinh tế vĩ mô, một đồng tiền trong bối cảnh kinh tế thương mại, muốn gì thì gì, nó phải tạo được niềm tin và phản ánh được giá trị của nền kinh tế của anh, chứ không phải theo một quyết định về hành chính, không phải cứ muốn tăng thì tăng, lúc thích giảm thì giảm.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta có trao đổi với rất nhiều nước trên thế giới. Người Mỹ họ cũng quan tâm việc các nước xử lý điều này lắm. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục làm rõ câu chuyện của chúng ta trong quản lý chính sách tiền tệ như vậy. Mỹ cũng đã phải công nhận VN cơ bản vận hành theo thị trường.

Đúng là nước Mỹ có chính sách theo dõi và kiểm tra xem nước nào có thao túng tiền tệ hay không, ví dụ như việc vào đầu tháng 8 vừa rồi, Trung Quốc làm yếu đồng nhân dân tệ xuống dưới mốc 7 nhân dân tệ/USD. Đây có cả câu chuyện kinh tế và chính trị. Vì vậy, nước nào cũng phải để ý.

Trong bối cảnh hiện nay chúng ta cũng đang cải cách kinh tế, phấn đấu theo kinh tế thị trường, quản lý nền kinh tế của đất nước theo kinh tế thị trường, vì vậy cần phải song hành ổn định kinh tế vĩ mô và hướng tới hoàn thiện theo kinh tế thị trường.

Tóm gọn lại tôi thấy rằng chúng ta đã quản lý nền kinh tế theo đúng định hướng của chúng ta, chúng ta đã vận hành quản lý chính sách tiền tệ theo kinh tế thị trường và quan trọng phải đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô. Khi trao đổi với các nước chúng ta cũng đã nói rất rõ định hướng chính sách này chứ không phải sự thay đổi cơ học hay thuần túy về hành chính.

Với Việt Nam, trong bối cảnh xung đột và ảnh hưởng đó, kinh tế vẫn tăng trưởng khả quan, vĩ mô ổn định... Điều này theo ông đến từ cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, các yếu tố nội tại và đặc biệt ở điều hành chính sách vĩ mô tại Việt Nam đã khẳng định giá trị, hiệu quả và tính hợp lý?

Phát triển của Việt Nam cần được xem xét heo chiều dài thời gian. Đó là quá trình 30 năm đổi mới, cùng với những cải cách về cơ chế và chính sách để vận hành theo nền kinh tế thị trường, điều đã giúp Việt Nam không ngừng phát triển vươn lên và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Rồi cải cách của chúng ta còn vượt qua cả lĩnh vực kinh tế mà còn cả chính trị và xã hội, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển.

Như vậy, một mặt, chúng ta có sức mạnh nội tại, để có thể quản trị rủi ro tốt hơn trước, nhưng mặt khác, trước các diễn biến khó lường của tình hình trong khi độ mở của nền kinh tế khá lớn, chúng ta cần phải theo sát tình hình, để có đối sách phù hợp.

Cạnh tranh thương mại Mỹ–Trung Quốc, hai nền kinh tế hàng đầu, chắc chắn đã và sẽ ảnh hưởng tới kinh tế, thương mại toàn cầu và kinh tế của nhiều nước khác. Việt Nam có quan hệ có quan hệ với cả hai nên cũng sẽ đứng trước nhiều rủi ro thách thức.

Phải nói bước đầu chúng ta đã có những giải pháp và chính sách phù hợp để ứng phó ngay với những thay đổi của tình hình. Chính phủ cũng đưa ra những quyết sách lâu dài về nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và sáng tạo, đồng thời tiếp tục ủng hộ và đẩy mạnh việc mở cửa và hội nhập, hội nhập ở mức cao hơn và sâu rộng. Điều đó tạo cho chúng ta gắn kết và có thể vươn lên ở vị trí cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như đa dạng hoá quan hệ với bên ngoài, với các trung tâm kinh tế lớn của thế giới.

Chính bản thân doanh nghiệp Việt Nam bước đầu cũng đã khá nhanh nhạy trong nắm bắt và ứng phó với thay đổi của tình hình. Nhưng đó là với những tập đoàn lớn, còn các doanh nghiệp nhỏ và vừa chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Trải qua cuộc xung đột này, ông nói gì về yếu tố kinh nghiệm và từng trải của nhà quản lý lẫn các chủ thể trong nền kinh tế, trên thị trường đã vững vàng hơn sau những gì đã trải qua cuộc những cuộc khủng hoảng trước đó, dù so sánh có thể khập khiễng?

Trước những thay đổi mới này, chúng ta thấy có cả cái mới, khó lường, có cả cái đã xuất hiện từ nhiều năm. Cái kinh nghiệm lớn nhất, có lẽ sẽ ở chỗ: Có một nền kinh tế nội lực mạnh, song hành với kinh nghiệm làm tốt để ứng phó với rủi ro. Xin đơn cử: Chủ nghĩa bảo hộ và toàn cầu hoá vốn luôn song hành, rồi phản ứng đối với toàn cầu hóa có lẽ nó đã tồn tại cả hàng chục năm nay rồi chứ không phải bây giờ. Nhưng đến khi nước Mỹ có Tổng thống Trump và rồi có Brexit, nó đã tạo ra những cái mà đột biến về chính sách, bất ổn và khó lường hơn, nhất là lại của các nền kinh tế lớn, thì nó tác động nhiều lắm.

Trong bối cảnh như vậy, lại phù hợp với nền kinh tế của mình. Thứ nhất là đổi mới và hội nhập. Đây là cái mà chúng ta rất kiên định và quyết liệt. Và chúng ta lại có cái thuận lợi, đó là chúng ta có cái đà của hơn 30 năm cải cách vừa qua, hiện đang có nhiều thỏa thuận FTA quan trọng và lại có môi trường hội nhập của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương. Câu chuyện thứ hai quyết tâm và nỗ lực ngày càng hoàn thiện thể chế và sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Cái thứ ba là quản trị rủi ro. Với nhà quản lý, đó là câu chuyện thường xuyên phải xử lý và thích ứng.

Cái cần nêu thêm ở đây là không chỉ đề phòng, ứng phó với rủi ro, mà quan trọng hơn, đó là câu chuyện cơ hội, phải tranh thủ và chớp lấy cơ hội như thế nào khi thế giới đang có nhiều biến đổi, chắc chắn đây sẽ là bài toán lớn hơn. Trong cái vận động phức tạp hiện nay, cá nhân tôi cho rằng, chúng ta đang có những cơ hội lớn lắm, để chúng ta đa dạng hoá quan hệ, đa dạng hoá chuỗi cung ứng và thị trường, và nhất là vươn lên hơn nữa trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực. Điều này đòi hỏi cả ở tầm quyết sách vĩ mô, cũng như ở cấp các doanh nghiệp.

Ông Phạm Quang Vinh. Ảnh: Việt Khôi

Cái cạnh tranh nước lớn hiện nay cũng đặt ra nhiều thứ cần lưu tâm. Luật chơi của thế giới sẽ thay đổi. Không chỉ dùng công cụ thuế quan, Mỹ-Trung còn cạnh tranh nhau về mô hình phát triển. Mỹ cũng sẽ không chấp nhận Trung Quốc cứ mãi là nước được hưởng qui chế đang phát triển’, mà theo quy chế một nền kinh tế phát triển, vậy thì các ưu đãi mà trước đây Trung Quốc được hưởng với tư cách một nước đang phát triển để thâm nhập vào thị trường Mỹ và các nước khác sẽ không còn như cũ.

Mặt khác, trở lại câu chuyện trả đũa thuế quan Mỹ-Trung, chúng ta đã và sẽ phải tiếp tục đề phòng việc gian lận thương mại, đội lốt nhãn mác hàng hoá VN.

Cả cái ngắn và dài hạn này liên quan đến hàm lượng Trung Quốc trong hàng hóa của nước khác, trong hàng hoá của VN, là cái cần phải cân nhắc, sẵn sàng các phương án cho những điều thay đổi có thể xảy ra đó.

Cái câu chuyện cạnh tranh về mô hình phát triển cũng vậy, nó có cả chuyện kinh tế và chính trị, nhưng có một cái là hướng tới kinh tế thị trường, các qui định của WTO ra sao, rồi câu chuyện minh bạch, bền vững, bảo vệ môi trường như thế nào, vẫn là cái chủ đạo sắp tới, dù đó là mô hình phát triển nào, của Âu, Mỹ hay của Trung Quốc, thì rồi cũng sẽ phải như vậy.

Cuộc cạnh tranh và những vận động hiện nay có thể dẫn đến những thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu và phân công lao động mới, thậm chí có thể lúc này lúc khác làm gián đoạn thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Như vậy, nó có cái rủi ro, nhưng cũng xuất hiện những cơ hội lớn, để vươn lên và tham gia tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

Chúng ta đã và đang có những quyết sách lớn và rất quan trọng, đó là đẩy mạnh hơn nữa đổi mới, hội nhập và nâng cao về chất năng lực của nền kinh tế, dựa trên năng suất lao động, khoa học công nghệ và sáng tạo, tạo ra sức bền vững và sức cạnh tranh lớn hơn, để đa dạng hoá và ranh thủ tốt hơn môi trường kinh tế mới, để tiếp tục hội nhập nhưng lựa chọn hệ giá trị, chuỗi giá trị cao hơn, bền vững hơn.

Ông có thể chia sẻ dự tính của mình về khả năng những điểm đến, mốc thời gian cũng như những khả năng tác động tiếp theo của xung đột Mỹ – Trung Quốc?

Trước hết về cạnh tranh thương mại, hai bên Mỹ-Trung, nhất là Mỹ, đánh thuế nhau không phải để triệt tiêu nhau mà để giành cái có lợi hơn cho mình. Cuộc cạnh tranh thương mại đã gia tăng suốt từ tháng 3 năm ngoái đến nay, nó không thể gia tăng mãi được.

Ngọc Diệp

Bài liên quan
Tin bài khác
Quảng Ngãi chỉ đạo đảm bảo cung ứng xăng dầu trên địa bàn tỉnh

Quảng Ngãi chỉ đạo đảm bảo cung ứng xăng dầu trên địa bàn tỉnh

Trước những biến động khó lường của thị trường năng lượng thế giới, sáng 9/3, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức họp bàn các giải pháp bảo đảm nguồn cung xăng dầu trên địa bàn.
Thủ tướng yêu cầu bảo đảm hiệu quả khi nghiên cứu đầu tư cao tốc Bảo Hà – Lai Châu

Thủ tướng yêu cầu bảo đảm hiệu quả khi nghiên cứu đầu tư cao tốc Bảo Hà – Lai Châu

Sáng 9/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ cho ý kiến về nhiều đề xuất của tỉnh Lai Châu, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm hiệu quả và tối ưu hóa đầu tư đối với dự án cao tốc Bảo Hà – Lai Châu.
Áp lực chi phí mới bủa vây doanh nghiệp Việt

Áp lực chi phí mới bủa vây doanh nghiệp Việt

Xung đột Trung Đông cùng những biến động thương mại toàn cầu đang tạo ra một “làn sóng chi phí” mới đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Từ dệt may, da giày, hàng không, ngân hàng, bất động sản cho đến các ngành sản xuất như thép, xi măng, nhựa, gỗ hay logistics đều đang phải đối mặt với sức ép gia tăng từ chi phí đầu vào, vận tải và rủi ro chuỗi cung ứng.
Đề xuất giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% để ổn định nguồn cung

Đề xuất giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% để ổn định nguồn cung

Bộ Tài chính đang đề xuất giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) xuống 0% đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào, nhằm tăng khả năng nhập khẩu và bảo đảm nguồn cung cho thị trường trong nước trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông leo thang.
Mô hình lúa chất lượng cao ở ĐBSCL vượt 197% kế hoạch, thu nhập nông dân tăng ít nhất 20%

Mô hình lúa chất lượng cao ở ĐBSCL vượt 197% kế hoạch, thu nhập nông dân tăng ít nhất 20%

Sau hơn hai năm triển khai đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều kết quả tích cực đã được ghi nhận khi diện tích canh tác vượt xa mục tiêu ban đầu, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân.
Nhật Bản đầu tư gần 79 tỷ USD vào Việt Nam, tiếp tục mở rộng hiện diện trong các ngành công nghệ và công nghiệp hỗ trợ

Nhật Bản đầu tư gần 79 tỷ USD vào Việt Nam, tiếp tục mở rộng hiện diện trong các ngành công nghệ và công nghiệp hỗ trợ

Đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định và tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật Bản đã và đang tăng cường hiện diện tại thị trường này. Tính đến hết tháng 2/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Nhật Bản vào Việt Nam đã đạt gần 79 tỷ USD, với hàng nghìn dự án đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất và công nghệ.
Hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn quan trọng ra sao đối với nền kinh tế Việt Nam?

Hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn quan trọng ra sao đối với nền kinh tế Việt Nam?

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang "gánh" 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, số còn lại phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Trung Đông căng thẳng, Bộ Công Thương thúc đẩy đa dạng nguồn cung xăng dầu

Trung Đông căng thẳng, Bộ Công Thương thúc đẩy đa dạng nguồn cung xăng dầu

Trước nguy cơ gián đoạn tuyến vận tải năng lượng qua Trung Đông, Bộ Công Thương đang thúc đẩy doanh nghiệp đầu mối đa dạng hóa nguồn nhập khẩu xăng dầu từ Đông Nam Á, Australia và Mỹ, đồng thời kích hoạt các kịch bản ứng phó nhằm bảo đảm nguồn cung và ổn định thị trường trong nước.
Chính phủ cho phép Petrovietnam nhập khẩu dầu thô để bảo đảm an ninh năng lượng

Chính phủ cho phép Petrovietnam nhập khẩu dầu thô để bảo đảm an ninh năng lượng

Trước diễn biến căng thẳng tại Trung Đông có nguy cơ tác động đến chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6/3/2026, đưa ra loạt giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và ổn định nguồn cung xăng dầu trong nước.
Ứng phó xung đột Trung Đông, Chính phủ triển khai loạt giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng

Ứng phó xung đột Trung Đông, Chính phủ triển khai loạt giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng

Trước những diễn biến phức tạp của xung đột Trung Đông, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6/3/2026, đưa ra nhiều giải pháp cấp bách nhằm chủ động ứng phó rủi ro về nguồn cung năng lượng, bảo đảm ổn định thị trường xăng dầu và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước.
Việt Nam hướng tới tăng trưởng 10% năm 2026: Cơ hội và thách thức cho nhà đầu tư quốc tế

Việt Nam hướng tới tăng trưởng 10% năm 2026: Cơ hội và thách thức cho nhà đầu tư quốc tế

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 10% vào năm 2026, sau khi đạt gần 8% trong năm 2025, phản ánh quyết tâm của Chính phủ trong việc thúc đẩy cải cách, mở rộng đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm duy trì đà tăng trưởng dài hạn. Trong bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đang theo dõi sát sao những thay đổi về chính sách, môi trường đầu tư và vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xung đột Trung Đông gây sức ép lên doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Xung đột Trung Đông gây sức ép lên doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Xung đột Trung Đông đang tạo ra những tác động đáng kể đối với hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.
Xung đột Trung Đông tác động nhiều chiều đến ngành hàng không Việt Nam

Xung đột Trung Đông tác động nhiều chiều đến ngành hàng không Việt Nam

Trước diễn biến phức tạp của xung đột tại khu vực Trung Đông, Cục Hàng không Việt Nam vừa có đánh giá về những tác động đối với ngành hàng không dân dụng trong nước.
Vốn đầu tư công và FDI duy trì đà tăng trong hai tháng đầu năm 2026

Vốn đầu tư công và FDI duy trì đà tăng trong hai tháng đầu năm 2026

Hoạt động đầu tư trong những tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư công được các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh giải ngân ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ, đồng thời dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục duy trì xu hướng tăng về vốn thực hiện.
Sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2026 tăng 10,4%, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực

Sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2026 tăng 10,4%, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực

Hoạt động sản xuất công nghiệp trong những tháng đầu năm 2026 ghi nhận tín hiệu tích cực khi chỉ số sản xuất toàn ngành tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, riêng tháng 2 chịu tác động của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ khiến số ngày làm việc giảm, làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp có sự sụt giảm so với tháng trước.