Thứ sáu 30/10/2026 09:54
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Tháo gỡ tình trạng gỗ ván ghép bị ùn tắc tại các cảng biển

12/10/2020 00:00
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết sản phẩm ván ghép thanh bị ùn tắc tại nhiều cảng và nhiều doanh nghiệp bị đối tác thương mại phạt chậm giao hàng.

Sản xuất sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu sang thị trường EU của Công ty CP WOODSLAND Tuyên Quang. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam vừa có đơn khẩn cấp gửi Bộ Tài chính cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương về tình trạng gỗ ván ghép thanh bị ùn tắc tại các cảng biển.

Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết sản phẩm ván ghép thanh bị ùn tắc tại nhiều cảng và nhiều doanh nghiệp bị đối tác thương mại phạt chậm giao hàng do Tổng cục Hải quan ban hành văn bản số 4250/TB-TCHQ (ký ngày 24/6/2020).

Với văn bản này, ván ghép thanh, chủ yếu sử dụng nguyên liệu gỗ keo rừng trồng và gỗ cao su, bị áp mã HS 4407 “Gỗ đã cưa và xẻ theo chiều dọc, lạng hoặc bóc, đã hoặc chưa bào, chà nhám hoặc ghép nối đầu, có độ dày trên 6mm” thuộc phân nhóm HS 440729.97.90 và bị coi là sản phẩm sơ chế, như gỗ xẻ thanh, bị áp thuế xuất khẩu 25% để hạn chế, thậm chí ngăn chặn xuất khẩu vì không tạo nhiều giá trị gia tăng và phải dành nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước.

Trong khi trước đó, gỗ ghép thanh đã được áp mã HS 4418 (đồ mộc dùng trong xây dựng, kể cả tấm gỗ có lõi xốp, tấm lát sàn đã lắp ghép và ván lợp - shingles and shakes), nằm trong phân nhóm HS 4418.90.99.

Tại văn bản số 9365/BTC-CST, ngày 1/7/2019, về việc thuế xuất khẩu tấm gỗ ghép thanh thành tấm, Vụ Chính sách thuế của Bộ Tài chính cũng đã khẳng định: gỗ ván ghép thanh là “Mặt hàng tấm gỗ (panel) làm từ các thanh gỗ (kể cả loại đã được ghép theo chiều dọc để làm tăng chiều dài của gỗ như mô tả tại nhóm 4407) được tiếp tục ghép theo chiều ngang thành các tấm bản lớn bằng keo và lực ghép, bào bốn mặt, quét keo, chà nhám, tề đầu rong cạnh thành tấm gỗ dùng để sản xuất bàn, tủ, giường, cánh tủ... thuộc các nhóm từ 44.18 đến 44.21, thuế xuất khẩu bằng 0%.”

Ngoài ra, Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản số 959/HQTPHCM-TXNK ngày 10/4/2015) và Chi cục Kiểm định Hải quan 4 (văn bản số 337/TB-KĐ4, ngày 13/3/2019), cũng đã khẳng định mã HS 4418 của mặt hàng gỗ ván ghép thanh.

Về quy chuẩn và thông lệ quốc tế, Malaysia và Indonesia là hai nước thành viên ASEAN, đều kê khai gỗ ván ghép thanh vào mã HS 4418. Tại Chương 44 của Biểu thuế quan hài hòa, Vương quốc Anh cũng quy định ván ghép thanh thuộc mã HS 4418.

Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng, với quyết định áp mã HS 4407 và áp thuế 25%, các doanh nghiệp công nghiệp gỗ ván ghép thanh đối diện nguy cơ vỡ nợ, phá sản.

Trước tình hình trên, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đề nghị Bộ Tài chính xem xét và thông báo ngay để hải quan ở các địa phương cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ ván ghép thanh với thuế suất bằng 0%. Đồng thời, xem xét và hủy bỏ ngay Thông báo số 4250, để mặt hàng gỗ ván ghép thanh trở lại mã HS 4418 như đã được khẳng định tại văn bản số 9365/BTC-CST của Bộ Tài chính.

Về kiến nghị trên của Hiệp hội, Tổng cục Lâm nghiệp cũng đánh giá, trước thời điểm ngày 24/6/2020, ván ghép thanh xuất khẩu được áp mã 4418 (thuế suất bằng 0%), với quy định mới của Tổng cục Hải quan, các doanh nghiệp không thể điều chỉnh ngay được giá xuất khẩu vì các hợp đồng đã ký từ trước.

Đây chính là nguyên nhân xảy ra tình trạng tồn đọng ván và các sản phẩm sử dụng ván ghép thanh ở các bến cảng biển. Nếu tình trạng kéo dài sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Theo ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, quá trình sản xuất ván ghép thanh đã làm thay đổi hoàn toàn kết cấu của thanh gỗ xẻ cơ sở ban đầu (mã HS 4407) thông qua các công đoạn chế biến sâu tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.

Vì vậy, việc áp dụng mã hàng hóa của ván ghép thanh theo mã HS 4407 là không phù hợp với Thông tư 65/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính về ban hành danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, cũng như ý kiến của Bộ Tài chính tại Văn bản số 9365/BTC và sẽ không khuyến khích được doanh nghiệp trong nước sản xuất chế biến sâu để hạn chế nhập khẩu đối với loại ván này.

Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho biết thêm việc phân loại ván ghép thanh vào loại gỗ xẻ và chịu thuế 25% là không đúng. Bởi sản xuất ván ghép thanh với nguyên liệu đầu vào là gỗ xẻ. Ván ghép thanh được ghép từ rất nhiều mảnh gỗ nhỏ (do bị lỗi) với bản từ 3-5cm để tạo thành ván lớn nhằm tăng sức chịu đựng.

Phát triển sản xuất gỗ ghép, góp phần giảm chi phí vận chuyển gỗ tròn về vùng có các nhà máy chế biến gỗ và mang lại giá trị gia tăng cho ngành chế biến gỗ. Đồng thời sản xuất mặt hàng này còn giúp giải quyết vấn đề nguyên liệu lãng phí trong ngành gỗ, tận dụng được tối đa nguyên liệu và giải bài toán cây gỗ lớn đối với ngành lâm nghiệp.

“Nếu không chế biến, tạo ra được ván ghép thanh thì nguyên liệu đầu vào của sản phẩm này sẽ chỉ quay về làm được dăm hoặc ván ép,” ông Đỗ Xuân Lập cho hay.

Về quy trình sản xuất, gỗ xẻ (xẻ ván, xẻ theo quy cách) được tạo ra từ gỗ tròn, cắt khúc, rồi cưa. Trong khi đó, ván ghép thanh là sau khi xẻ ván còn phải sấy, xẻ thanh, gia công thanh, cắt ngắn, phay ngón, tráng keo, ép dọc, phay cạnh, tiếp tục tráng keo, xếp, ghép và phải xử lý sản phẩm.

Với quy trình sản xuất trên, ván ghép thanh là một một mặt hàng đã qua chế biến, không phải là sản phẩm đơn giản. Gỗ ghép thanh được ứng dụng rất đa dạng, được sử dụng làm đồ gỗ xây dựng và đồ gỗ nội ngoại thất, mặt bàn, ván sàn...

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, hiện cả nước có 146 doanh nghiệp sản xuất ván ghép thanh, với công suất khoảng 570.000 m3 phẩm/năm; nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh là các loại gỗ rừng trồng trong nước, chủ yếu là gỗ keo, cao su, bạch đàn.

Trên thị trường, ván ghép thanh có giá xuất khẩu cao gấp 3-4 lần giá gỗ xẻ (gỗ xẻ giá từ 3,4-3,6 triệu đồng/m3; ván ghép thanh giá từ 10-14 triệu đồng/m3). Trong khi đó, để làm ra 1m3 ván ghép thanh cần sử dụng 1,7-1,8 m3 gỗ xẻ.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị xuất khẩu ván ghép thanh năm 2019 đạt 332,7 triệu USD, chiếm 2,9 % tổng giá trị xuất khẩu lâm sản, tăng 16,7 % so với năm 2018.

Trong 6 tháng đầu năm 2020, mặt hàng này xuất khẩu đạt 181,5 triệu USD, chiếm 3,4% giá trị xuất khẩu, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2019.

PV

Bài liên quan
Tin bài khác
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.
TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

Từ cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo đến công nghệ sinh học biển và dịch vụ môi trường, TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng phạm vi thu hút đầu tư vào kinh tế biển. Danh mục ưu đãi mới được kỳ vọng tạo liên kết giữa các ngành, nhưng bài toán quan trọng là xác định đúng dự án, điều kiện thụ hưởng và cơ chế triển khai để chính sách thực sự đi vào hoạt động kinh doanh.
Mua sắm công mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mua sắm công mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mua sắm công không chỉ là một chính sách hỗ trợ, mà còn là cách mở rộng thị trường thông qua nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Tuy nhiên, để cơ hội này chuyển thành đơn hàng và doanh thu thực chất, cần minh bạch cách tính tỷ lệ ưu tiên, kết quả lựa chọn nhà thầu và giá trị hợp đồng được trao.
Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đẩy nhanh giải phóng mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, phấn đấu bàn giao 97–98% diện tích trong tháng 11/2026, hoàn thành trước ngày 15/12/2026.
Quốc hội bàn giải pháp khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quốc hội bàn giải pháp khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tiếp cận vốn và hỗ trợ pháp lý là những vấn đề được đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ khi thảo luận dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm bảo đảm chính sách hỗ trợ sát thực tiễn, hạn chế chồng chéo và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển bền vững.
Chính phủ thúc đẩy kết nối nguồn lực kiều bào với phát triển đất nước

Chính phủ thúc đẩy kết nối nguồn lực kiều bào với phát triển đất nước

Chính phủ ban hành Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW, tập trung hoàn thiện chính sách, thu hút nhân tài, phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài và tăng cường gắn kết cộng đồng kiều bào với quê hương.
Việt Nam – Trung Quốc kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị

Việt Nam – Trung Quốc kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị

Kết nối sản xuất, logistics là trọng tâm hợp tác Việt Nam – Trung Quốc tại Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2026. Với lợi thế công nghiệp, cảng biển và thị trường rộng mở, TP. Hồ Chí Minh có cơ hội thúc đẩy chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp cần giảm chi phí vận tải, tiếp nhận công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn xanh để nâng giá trị.
Số hóa dữ liệu đất đai: Mỗi thửa đất có một mã định danh duy nhất

Số hóa dữ liệu đất đai: Mỗi thửa đất có một mã định danh duy nhất

Cả nước hiện có 44 triệu thửa đã kết nối với VNeID. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) hướng tới chuẩn hóa dữ liệu đất đai, cắt giảm giấy tờ và đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
47 dự thảo nghị quyết được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Sáu HĐND thành phố

47 dự thảo nghị quyết được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Sáu HĐND thành phố

Sáng 29/10, HĐND TP.Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026–2031 khai mạc Kỳ họp thứ sáu (Kỳ họp chuyên đề) tập trung xem xét Quy hoạch tổng thể Thành phố thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm cùng các cơ chế, chính sách và dự án quan trọng.
Quốc hội bàn chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ chế quản lý đất đai

Quốc hội bàn chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ chế quản lý đất đai

Ngày 29/10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, sử dụng đất và chính sách hỗ trợ khu vực doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
TP. Hồ Chí Minh xây dựng niềm tin để hút vốn quốc tế

TP. Hồ Chí Minh xây dựng niềm tin để hút vốn quốc tế

Trung tâm tài chính quốc tế TP. Hồ Chí Minh muốn thu hút dòng vốn toàn cầu cần xây dựng niềm tin bằng thể chế minh bạch, quy định ổn định và cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả. Bài toán quan trọng là kết nối nguồn vốn với hạ tầng, năng lượng, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh của Việt Nam.
Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Tại phiên thảo luận chiều 28/10 về dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị phát triển nhà ở sát nhu cầu, khả năng chi trả của người dân; đồng thời hoàn thiện cơ chế bố trí quỹ đất, giá thuê và chuyển nhượng nhà ở xã hội nhằm ngăn chặn trục lợi chính sách.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Giá nhà ở xã hội hiện dao động khoảng 15–29 triệu đồng/m², tùy địa phương và đặc điểm từng dự án. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, chi phí xây dựng, hạ tầng, vật liệu và lãi vay là những yếu tố tạo nên sự chênh lệch này.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Tại phiên đối thoại trực tiếp giữa Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 ngày 28/10, Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam chủ động thích ứng với những chuyển dịch của kinh tế thế giới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu gồm công nghệ, công nghiệp bền vững và kết nối quốc tế. Với doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội nằm ở việc nâng năng suất, gia tăng giá trị sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào năng lực thực thi và khả năng tiếp cận nguồn lực.