Thứ tư 29/07/2026 02:44
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Bỏ Tết Ta, nhập Tết Tây dưới góc nhìn của những nhà kinh tế

12/10/2020 00:00
VietTimes -- Như thành lệ, cứ một dịp giáp Tết, đâu đó trên truyền thông – bây giờ là cả mạng xã hội – lại rộ lên những ý kiến đòi bỏ Tết âm lịch (Tết Ta), chuyển hẳn theo Tây lịch

GS. Võ Tòng Xuân chưa hẳn đã là người đầu tiên đề xuất "bỏ Tết cổ truyền" nhưng quan điểm của ông đã gây bão trên truyền thông.

14 năm kể từ lần ý kiến ấy, cứ mỗi dịp giáp Tết, trên báo chí – bây giờ là cả mạng xã hội – lại rộ lên những ý kiến đòi bỏ Tết âm lịch (Tết Ta). Và ngay lập tức, những quan điểm phản biện lại lên tiếng.

Nhóm ủng hộ bỏ Tết Ta dù thừa nhận tính truyền thống và phong tục Tết tự bao đời nhưng cho rằng văn hóa và thuần phong mỹ tục không chỉ ở cái Tết. Họ nhìn Tết với nhiều góc khuất như đem lại nhiều tai nạn, rượu chè, bài bạc hay đủ thứ thói hư tật xấu.

GS. Võ Tòng Xuân phân tích: người dân Việt Nam đã ăn Tết ta từ sau rằm tháng Chạp (15/12 Âm lịch). Công việc trì trệ, người dân uể oải, đường sá kẹt cứng… Đi đâu, có việc gì, người ta cũng nói “thôi, lo ăn tết đã”. Và người ta ăn tết ít nhất đến tận rằm tháng Giêng, thế là công việc bê trễ, xã hội thì tốt kém.

Tết làm lãng phí nguồn lực?

Dưới góc nhìn của một nhà kinh tế học, TS. Lê Hồng Giang (chuyên gia tài chính tại Australia) cho rằng Tết làm gia tăng yếu tố mùa vụ của nền kinh tế Việt Nam, dẫn đến lãng phí nguồn lực (do năng lực sản xuất bỏ không (capacity idling)) rất lớn.

Về phương diện vĩ mô, việc gia tăng tiêu dùng rất lớn trong dịp Tết luôn tạo sức ép lên mặt bằng giá cả, gây khó khăn cho những chính sách ổn định kinh tế. Dù khó đánh giá chính xác nhưng nhiều khả năng thói quen “ăn Tết” lớn của người Việt cũng làm giảm tổng tiết kiệm của toàn xã hội, ảnh hưởng đến đầu tư và cán cân thanh toán.

“Một khía cạnh vĩ mô khác ít người để ý là mức độ sử dụng (capacity utilization) của nền kinh tế giảm mạnh, thấp hơn công suất tiềm năng trong giai đoạn Tết, gây ra một sự lãng phí nguồn lực rất lớn. Có thể thấy điều này khá rõ qua số liệu thống kê GDP theo quí của Việt Nam. Trong vòng 10 năm lại đây (từ quí 1-2005 đến quí 4-2014), GDP(*) trung bình của quí 1 (quí có Tết) chỉ chiếm khoảng 18% GDP của cả năm”, TS. Giang phân tích trong một bài viết sau Tết Ất Mùi 2015 trên TBKTSG.

Bỏ Tết Ta, nhập Tết Tây dưới góc nhìn của những nhà kinh tế
TS. Lê Hồng Giang. (Ảnh: Internet)

Mới nhất, hôm 20/1/2020, trong một dòng trạng thái trên trang cá nhân. ông Giang nhắc lại vấn đề này và bình luận: “Bỏ Tết (ví dụ nhập Tết ta với Tết Tây như Nhật) chưa chắc giải quyết được vấn đề này, nhưng nền kinh tế/xã hội Việt Nam cần một cú hích để (may ra) có thể thay đổi được thói quen "ăn Tết" rất phi kinh tế hiện tại”.

Vị chuyên gia tài chính gốc Việt giàu uy tín này nhìn chuyện thay đổi bộ lịch một cách bình thản. “Nhiều quốc gia đã thay đổi lịch trong quá khứ mà chẳng hề hấn gì (ngay cả âm lịch của Việt Nam/Trung Quốc cũng đã được hiệu chỉnh nhiều lần)”, ông viết và bày tỏ: “Chuyển reference ngày đầu năm từ bộ lịch này sang bộ lịch kia có gì là ghê gớm về khía cạnh văn hóa/truyền thống/tâm linh/nhịp sinh học....”.

Cũng là một nhà kinh tế học nhưng TS. Huỳnh Thế Du của Đại học Fulbright lại nghĩ khác.

“Tết tất cả đều dừng lại thì những người phải làm quần quật cả năm mới có dịp ngừng tay. Dịp duy nhất như vậy đối với nhiều người sao lại đòi bỏ đi? Nếu tính tổng phúc lợi của tất cả những người trong xã hội thì Tết có thể tốn kém. Nền kinh tế bị dừng, và những người khá giả hơn (chủ yếu là thị dân) có thể cảm thấy gánh nặng của cái Tết.

Tuy nhiên, bỏ Tết là hy sinh lợi ích của những người khó khăn hơn cho những người khá giả hơn. Điều này không khác gì việc ném những nô lệ hay tù binh để thú dữ xé xác trong đấu trường La Mã thời cổ xưa nhằm vì niềm vui cuồng loạn của những người trên khán đài.

Bây giờ chưa phải lúc để đặt vấn đề bỏ tết vì nhiều người còn cần (đó là chưa kể khía cạnh truyền thống). Có thể đặt vấn đề này sau năm 2045 với điều kiện Việt Nam đã trở thành một quốc gia phát triển”, ông Du viết trong dòng trạng thái vào rạng sáng ngày 19/01/2020 với chủ đề “Xin đừng đặt vấn đề bỏ Tết!”, cũng là cơ sở để TS. Lê Hồng Giang có dòng trạng thái phản biện vào hôm 20/01.

Ông Giang không tán đồng quan điểm Tết có lợi cho người nghèo: “Quan điểm của tôi là bất kể Tết có lợi cho người nghèo hay không, cách tốt nhất giúp họ (nâng cao welfare) là các chính sách/hành động trợ giúp trực tiếp. Chí ít như thế không gây hại cho những người coi Tết là một gánh nặng.”

"Lập luận nhập tết để hiệu quả hơn rất kém thuyết phục”

TS. Huỳnh Thế Du phân tích khía cạnh hiệu quả kinh tế - lập luận quan trọng nhất của quan điểm nhập Tết. “Kết quả cho thấy, lập luận nhập tết để hiệu quả hơn rất kém thuyết phục”, ông kết luận trong dòng trạng thái trên trang cá nhân hôm 21/1.

Ông Du đưa ra 3 luận điểm để chứng minh. Thứ nhất, không có dấu hiệu cho thấy nhập Tết sẽ hiệu quả hơn trong quan hệ kinh tế với các đối tác của Việt Nam. Lập luận chính của việc nhập tết là để cùng nhịp với các đối tác kinh tế, không bỏ lỡ cơ hội của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu lấy thương mại hai chiều và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài làm thước đo thì kết quả cho thấy ăn tết âm lịch như hiện tại tốt hơn so với việc chuyển.

Bỏ Tết Ta, nhập Tết Tây dưới góc nhìn của những nhà kinh tế - ảnh 2
"Từ năm 1995 đến nay, thương mại với các nước theo tết âm lịch (nghỉ hai ngày trở lên) chiếm hơn 40% (năm 2018 là 43%); các nước bắc Mỹ, EU, Úc và New Zealand và Nhật Bản chiếm hơn 37% (năm 2018 còn dưới 35%); các nước Asean (không bao gồm Singapore vì vẫn đang ăn tết âm) chiếm khoảng 11% (năm 2018 còn hơn 10%), và các nước khác chiếm hơn 11% (năm 2018 là hơn 12%)" .

Đối với các nước Asean, đa phần (kể cả Philippin) những đợt nghỉ chính (2 ngày trở lên) không phải là dịp tết dương lịch, đặc biệt gần một nửa dân số Asean (Indonesia và Malaysia) theo lịch Hồi giáo; và đối với 12% còn lại, rất đông là Hồi giáo và Ấn Độ, đợt nghỉ chính dài ngày cũng không phải là dịp tết dương lịch.

Do vậy, nếu có điều chỉnh lịch nghỉ thì không giải quyết được vấn đề vênh với nhóm các nước đang chiếm hơn 20% khối lượng giao dịch thương mại với Việt Nam.

So sánh hai nhóm chính là các nước ăn tết âm lịch và dương lịch, nếu chuyển thì tỷ phần bị lệch là 43%, bù lại số phần không bị lệch là 35%. Như vậy, tình trạng sẽ tệ đi.

Nhìn vào vốn đầu tư nước ngoài thì tình hình còn tệ hơn. Lũy kế đến hết năm 2019, nhóm nước ăn tết âm chiếm hơn 52%, ASEAN (trừ Singapore) chiếm 7%, các thiên đường thuế (chia cho nhiều nước) chiếm 10%, còn lại là các nước khác.

Hơn thế, nếu nhìn vào các nước theo dương lịch thì dịp nghỉ chính của họ cũng rất khác.

Ví dụ, dịp nghỉ chính của Mỹ là Lễ tạ ơn vào tháng 11 hàng năm. Chính thức chỉ có một ngày, nhưng tổng thời gian thường là 5 ngày (từ thứ tư đến chủ nhật). Dịp giáng sinh và năm mới cũng có nhiều người lấy phép nghỉ cả tuần như ngày tết ở Việt Nam cho dù chính thức chỉ có 2 ngày.

Thứ hai, nhìn trên bình diện toàn cầu sẽ là thảm họa cho nhân loại vì nhu cầu quá cao ở một thời điểm. Giả sử lập luận Việt Nam ăn tết theo dương lịch sẽ gia tăng hiệu quả là đúng cho Việt Nam thì có thể suy luận tương tự đối với các nước khác.

Bỏ Tết Ta, nhập Tết Tây dưới góc nhìn của những nhà kinh tế
TS. Huỳnh Thế Du. (Ảnh: Internet)

“Nếu cả thế giới cùng ăn tết dài ngày một lần sẽ là thảm họa vì nhu cầu của rất nhiều hàng hóa dịch vụ sẽ tăng cao quá mức. Khả năng trái đất sẽ nổ tung hoặc ngày tận thế sẽ đến nhanh hơn là rất cao”, TS. Du viết một cách hóm hỉnh và lấy ví dụ: Trong những ngày tết, các hãng hàng không của Việt Nam có thể thuê tạm máy bay của Campuchia hay Indonesia để tăng cường cho các chuyến bay trong nước. Nếu các nước cùng ăn tết giống nhau thì việc thuê lại là không thể.

Vị giảng viên của FUV cho rằng, sự đa dạng trong các ngày nghỉ của các nước trên thế giới hiện nay đang tạo ra sự hài hòa hơn về việc sử dụng các nguồn lực của nhân loại so với tất cả đều giống nhau.

Việc bỏ (chuyển) Tết ta còn có trở ngại thứ 3, theo ông Du, đó là khó khả thi về khía cạnh văn hóa truyền thống. Những giá trị của các cộng đồng (đa phần là vô hình) là rất quan trọng. Chúng là những sợi dây tạo ra sự gắn kết của cộng đồng, tạo dựng niềm tin và vốn xã hội. “Những ngày nghỉ và lễ hội không đơn thuần là tự đặt ra mà nó còn có ý nghĩa văn hóa, tâm linh và niềm tin của các cộng đồng. Mọi người sẽ nghĩ thế nào nếu ai đó đưa ra đề xuất nhập các ngày lễ Phật Đản, Ramadan và Giáng sinh vào với nhau cả cho hiệu quả?”, ông Du đặt vấn đề.

Với 3 luận điểm đã nêu ra, ông Du nhận định, trong bối cảnh Việt Nam hiện tại, việc bỏ hay chuyển Tết còn khó hơn đội đá vá trời.

“Tóm lại, tôi cho rằng Tết là cần thiết ở Việt Nam và khó có thể bỏ” – quan điểm của TS. Huỳnh Thế Du.

Thực tế, không chỉ TS. Lê Hồng Giang hay TS. Huỳnh Thế Du, nhiều chuyên gia kinh tế cũng đã đưa ra nhiều phân tích về tác động của Tết và kỳ nghỉ Tết với nền kinh tế.

Thậm chí, một số ý kiến còn tính toán rằng nghỉ kết có thể làm GDP giảm từ 2 – 5%. Tuy nhiên, các con số này cũng mới chỉ là là ước lượng. Để người dân và các nhà hoạch định chính sách có thể thảo luận và cân nhắc đề xuất bỏ hay chuyển Tết thì cần một đánh giá có tính học thuật cao hơn./.

(Tổng hợp)

Bài liên quan
Tin bài khác
Đề xuất trao thêm quyền xây dựng thể chế cho đô thị đặc biệt

Đề xuất trao thêm quyền xây dựng thể chế cho đô thị đặc biệt

Dự thảo Luật Phát triển đô thị đề xuất mở rộng thẩm quyền cho các đô thị đặc biệt trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm xử lý các vấn đề đặc thù phát sinh từ thực tiễn. Cơ chế này đi kèm các yêu cầu chặt chẽ về kiểm soát quyền lực, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Sân bay Long Thành dự kiến vận hành thử từ tháng 9, hướng tới khai thác từ 1/12

Sân bay Long Thành dự kiến vận hành thử từ tháng 9, hướng tới khai thác từ 1/12

Cảng Hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) giai đoạn 1 dự kiến bước vào giai đoạn vận hành thử nghiệm trong 3 tháng, từ tháng 9 đến hết tháng 11/2026, trước khi chính thức đưa vào khai thác từ ngày 1/12. Các hạng mục trọng điểm hiện đang được gấp rút hoàn thiện và chạy thử đồng bộ.
Từ quyết tâm đến hành động: Hải Phòng ban hành nghị quyết chuyên đề, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 13%/năm

Từ quyết tâm đến hành động: Hải Phòng ban hành nghị quyết chuyên đề, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 13%/năm

Không chỉ đặt ra mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng còn mở ra một chương trình hành động toàn diện, với những giải pháp cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng nhằm tạo bước đột phá cho kinh tế thành phố trong 6 tháng cuối năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030.
Đề xuất giao Sơn La làm chủ quản cao tốc CT.03, thúc đẩy tiến độ toàn tuyến

Đề xuất giao Sơn La làm chủ quản cao tốc CT.03, thúc đẩy tiến độ toàn tuyến

Dự án cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên dài 182 km, vốn 63.120 tỷ đồng, được đề xuất giao Sơn La làm cơ quan chủ quản nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Phải tạo chuyển biến thực chất để gỡ "thẻ vàng" IUU trong năm 2026

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Phải tạo chuyển biến thực chất để gỡ "thẻ vàng" IUU trong năm 2026

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương mở đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), hoàn thành kế hoạch khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), tạo chuyển biến rõ nét trước ngày 31/8, quyết tâm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" trong năm 2026.
Điều đáng lo không phải thuế 12,5% mà là sức ép kéo dài với doanh nghiệp Việt

Điều đáng lo không phải thuế 12,5% mà là sức ép kéo dài với doanh nghiệp Việt

Việc Hoa Kỳ áp thuế bổ sung đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu đang tạo ra áp lực mới với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), thách thức lớn nhất không nằm ở mức thuế hiện hành mà ở khả năng chính sách này sẽ duy trì trong thời gian dài, buộc doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược cạnh tranh và đầu tư.
Ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Mô hình quản trị đặc thù cho các Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng vừa chính thức được định hình. Việc ban hành Quy chế hoạt động mới không chỉ làm rõ thẩm quyền điều hành mà còn mở đường cho các cơ chế vượt trội về tài chính, tuyển dụng và trả lương theo thị trường nhằm thu hút dòng vốn cùng nhân tài toàn cầu.
APEC định vị dữ liệu là nguồn lực chiến lược, mở ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế số

APEC định vị dữ liệu là nguồn lực chiến lược, mở ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế số

Lần đầu tiên, các nền kinh tế thành viên APEC thống nhất coi dữ liệu là nguồn lực chiến lược thay vì chỉ là đối tượng quản lý. Sự thay đổi trong tư duy này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng năng suất và tạo động lực tăng trưởng mới cho kinh tế số trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Điểm mới từ Hội nghị Trung ương 3: Chính sách phải đi cùng năng lực thực thi

Điểm mới từ Hội nghị Trung ương 3: Chính sách phải đi cùng năng lực thực thi

Không chỉ ban hành các quyết sách lớn, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương còn đặt ra yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện. Tinh thần xuyên suốt là mọi chủ trương phải được triển khai bằng cơ chế rõ ràng, trách nhiệm cụ thể và được đánh giá bằng kết quả thực tế, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đề xuất cơ chế đặc thù cho khu đô thị lấn biển Đà Nẵng hơn 400.000 tỷ đồng

Đề xuất cơ chế đặc thù cho khu đô thị lấn biển Đà Nẵng hơn 400.000 tỷ đồng

Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết dự án khu đô thị lấn biển Đà Nẵng được quy hoạch với quy mô khoảng 1.500 ha, tổng vốn đầu tư trên 400.000 tỷ đồng, hướng tới hình thành một đô thị biển hiện đại tầm cỡ quốc tế, tạo không gian phát triển mới cho thành phố. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá toàn diện tác động của các cơ chế đặc thù, đặc biệt là những chính sách liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài và quốc phòng, an ninh.
Đề xuất cơ chế đặc thù cho siêu đô thị lấn biển 400.000 tỷ tại Đà Nẵng

Đề xuất cơ chế đặc thù cho siêu đô thị lấn biển 400.000 tỷ tại Đà Nẵng

Dự án được định hướng phát triển trở thành khu đô thị biển hiện đại, tầm cỡ quốc tế, với diện tích khoảng 1.500 ha, quy mô vốn đầu tư trên 400.000 tỷ đồng.
TP. Hồ Chí Minh sẽ có Khu Thương mại tự do hơn 4.100 ha kết nối siêu cảng Cái Mép Hạ

TP. Hồ Chí Minh sẽ có Khu Thương mại tự do hơn 4.100 ha kết nối siêu cảng Cái Mép Hạ

Với quy mô hơn 4.174 ha, Khu Thương mại tự do TP. Hồ Chí Minh được quy hoạch gắn với cụm cảng Cái Mép Hạ và hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược. Mô hình này được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển logistics, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tăng sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Dòng tiền đang chảy về đâu trong đầu tư hạ tầng giao thông?

Dòng tiền đang chảy về đâu trong đầu tư hạ tầng giao thông?

Dòng vốn đầu tư hạ tầng giao thông đang có sự dịch chuyển rõ nét, tập trung vào các dự án trọng điểm, ưu tiên hiệu quả và tính lan tỏa, trong bối cảnh áp lực vốn, lãi suất và yêu cầu minh bạch ngày càng gia tăng.
Đề xuất đầu tư cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng gần 29.300 tỷ đồng

Đề xuất đầu tư cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng gần 29.300 tỷ đồng

Để xuất đầu tư dự án cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng quy mô gần 29.300 tỷ đồng đang được hoàn thiện hồ sơ, kỳ vọng mở trục kết nối chiến lược, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Bắc.
Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Đổi tên Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không đơn thuần là sửa vài chữ trong một văn bản pháp luật. Điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy làm chính sách, từ "hỗ trợ" sang "tạo cơ hội" để doanh nghiệp tự lớn lên bằng năng lực của mình.