Thứ sáu 15/05/2026 12:21
Hotline: 024.355.63.010
Pháp luật

Xử lý các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng

16/07/2021 10:37
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn các bên ký lại hợp đồng...

Hợp đồng lao động bị vô hiệu

Điều 50 của Bộ luật Lao động quy định rất cụ thể về việc hợp đồng lao động vô hiệu, đây là cơ sở để các bên xem xét khi có xảy ra tranh chấp.

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động..

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động... (Ảnh: minh họa)

Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động trái pháp luật; Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền; Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc bị pháp luật cấm; Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu.

Về thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, pháp luật quy định Thanh tra lao động, Toà án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thanh tra lao động tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần

Căn cứ theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu được quy định như sau:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng lao động được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.Trường hợp hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.

Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP; Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc;

Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ

Trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại thực hiện như sau:– Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;

Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020;

Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trường hợp HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của HĐLĐ vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong HĐLĐ là công việc mà pháp luật cấm thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi giao kết hợp đồng lao động mới thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020.

Trường hợp hai bên không giao kết hợp đồng lao động mới thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động; Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản;

Người sử dụng lao động trả cho người lao động một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Thời gian làm việc của người lao động để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với các hợp đồng lao động trước hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020, nếu có.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và sẽ thay thế cho Bộ luật Lao động 2012 hiện hành. Theo đó, Bộ luật Lao động 2019 đã có những thay đổi nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động

Điều 35, Bộ luật Lao động 2019 quy định về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động đã cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần có lý do mà chỉ cần đáp ứng điều kiện báo trước về thời gian như sau: Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.

Thậm chí, trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động còn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Khoản 2 Điều 35, Bộ Luật lao động 2019 quy định những trường hợp đó bao gồm:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này

Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Hà An

Tin bài khác
Chủ tịch nước công bố 9 Luật mới: Hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh "nhẹ gánh" tiền thuế

Chủ tịch nước công bố 9 Luật mới: Hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh "nhẹ gánh" tiền thuế

Ngày 13/5, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 9 luật vừa được Quốc hội khóa XVI thông qua. Đáng chú ý, Luật sửa đổi các sắc thuế Thu nhập cá nhân, GTGT, Thu nhập doanh nghiệp và Tiêu thụ đặc biệt sẽ chính thức có hiệu lực từ 1/1/2026, mang tới "luồng sinh khí mới" cho hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh và gần 240.000 doanh nghiệp nhỏ nhờ những thay đổi mang tính đột phá về ngưỡng chịu thuế.
Thi hành án dân sự trên môi trường số: Bước ngoặt đột phá từ ngày 1/7/2026

Thi hành án dân sự trên môi trường số: Bước ngoặt đột phá từ ngày 1/7/2026

Nghị định 152/2026/NĐ-CP vừa ban hành đã chính thức thiết lập hành lang pháp lý cho việc triển khai thi hành án dân sự trên môi trường số. Đây không chỉ là bước chuyển mình từ phương thức làm việc truyền thống sang kỷ nguyên số hóa, mà còn là giải pháp đột phá giúp đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án qua VNeID, Cổng dịch vụ công và nhận thông báo điện tử tức thời. Quy định mới này được kỳ vọng sẽ tối ưu hóa thời gian, tiết kiệm chi phí và tăng tính công khai trong việc thực thi các bản án dân sự tại Việt Nam.
Đề xuất giảm một nửa thời gian cấp phép xây dựng, nhà ở riêng lẻ còn 7 ngày

Đề xuất giảm một nửa thời gian cấp phép xây dựng, nhà ở riêng lẻ còn 7 ngày

Bộ Xây dựng đề xuất rút ngắn mạnh thời gian cấp giấy phép xây dựng, trong đó nhà ở riêng lẻ chỉ còn 7 ngày làm việc, các công trình khác tối đa 10 ngày, đồng thời tiếp tục cắt giảm nhiều thủ tục hành chính chồng chéo trong lĩnh vực xây dựng.
Từ 21/5: Bộ Công an vận hành hệ thống khai báo lưu trú mới, quét hộ chiếu tự động

Từ 21/5: Bộ Công an vận hành hệ thống khai báo lưu trú mới, quét hộ chiếu tự động

Kể từ ngày 21/5/2026, phương thức khai báo lưu trú đối với công dân Việt Nam và tạm trú đối với người nước ngoài sẽ có sự thay đổi mang tính bước ngoặt. Việc chính thức vận hành hệ thống dùng chung trên toàn quốc không chỉ giúp đơn giản hóa thủ tục mà còn siết chặt quản lý cư trú, đòi hỏi người dân và Việt kiều phải đặc biệt lưu tâm để tránh các rắc rối pháp lý.
Cảnh báo: Từ 15/5, hút thuốc lá điện tử bị phạt đến 5 triệu đồng

Cảnh báo: Từ 15/5, hút thuốc lá điện tử bị phạt đến 5 triệu đồng

Bắt đầu từ ngày 15/5/2026, Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính y tế chính thức có hiệu lực, giáng đòn mạnh vào việc sử dụng thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Không chỉ dừng lại ở mức phạt tiền lên đến 5 triệu đồng, người vi phạm còn phải đối mặt với biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy hoàn toàn các sản phẩm gây hại này.
Hoàn thiện cơ chế EPR, tăng trách nhiệm tái chế của doanh nghiệp

Hoàn thiện cơ chế EPR, tăng trách nhiệm tái chế của doanh nghiệp

Nghị định số 110/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành đã cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.
Từ 15/5, bán thuốc kê đơn không có toa có thể bị phạt tới 20 triệu đồng

Từ 15/5, bán thuốc kê đơn không có toa có thể bị phạt tới 20 triệu đồng

Từ ngày 15/5/2026, Nghị định 90/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực. Đáng chú ý, hành vi bán thuốc kê đơn không có đơn thuốc sẽ bị xử phạt tới 20 triệu đồng, trong khi mức phạt tối đa với tổ chức vi phạm trong lĩnh vực dược có thể lên tới 200 triệu đồng.
Chính thức bổ sung bảo hiểm con người vào đối tượng không chịu thuế GTGT

Chính thức bổ sung bảo hiểm con người vào đối tượng không chịu thuế GTGT

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về thuế giá trị gia tăng (GTGT), có hiệu lực từ ngày 20/6/2026. Điểm đáng chú ý nhất là việc mở rộng danh mục đối tượng không chịu thuế đối với nhiều loại hình bảo hiểm thiết yếu và điều chỉnh linh hoạt quy định khấu trừ thuế đầu vào nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí.
Đề xuất lập Đội an toàn thực phẩm cấp xã, có con dấu và tài khoản riêng

Đề xuất lập Đội an toàn thực phẩm cấp xã, có con dấu và tài khoản riêng

Tại Dự thảo Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã đưa ra đề xuất mang tính đột phá: Thành lập Đội an toàn thực phẩm là đơn vị sự nghiệp thuộc UBND cấp xã. Mô hình này nhằm thống nhất một đầu mối quản lý, khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo hiện nay giữa ba ngành Y tế - Công Thương - Nông nghiệp.
Siết mạnh bán thuốc không đơn: Phạt tới 20 triệu đồng và mức phạt mới cho thuốc hết hạn

Siết mạnh bán thuốc không đơn: Phạt tới 20 triệu đồng và mức phạt mới cho thuốc hết hạn

Từ ngày 15/5/2026, các cơ sở kinh doanh dược phẩm sẽ đối mặt với khung pháp lý nghiêm ngặt hơn khi Nghị định 90/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực. Đáng chú ý, hành vi "bán thuốc kê đơn không đơn" từng bị buông lỏng nay sẽ bị phạt tới 20 triệu đồng, trong khi nhập khẩu thuốc hết hạn có thể bị phạt kịch khung 80 triệu đồng.
Đầu tư du lịch sinh thái trong rừng: Vi phạm có thể bị phạt tới 50 triệu đồng

Đầu tư du lịch sinh thái trong rừng: Vi phạm có thể bị phạt tới 50 triệu đồng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 146/2026/NĐ-CP, bổ sung nhiều quy định mới nhằm siết chặt hoạt động đầu tư du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và giải trí trong rừng. Đáng chú ý, các hành vi triển khai dự án không đúng quy định tại rừng đặc dụng có thể bị xử phạt tới 50 triệu đồng.
Mạnh tay phạt đến 1 tỷ đồng hành vi lấn chiếm rừng từ ngày 25/6/2026

Mạnh tay phạt đến 1 tỷ đồng hành vi lấn chiếm rừng từ ngày 25/6/2026

Từ ngày 25/6/2026, các hành vi xâm phạm đất rừng sẽ bị siết chặt với mức phạt tiền tỷ. Đặc biệt, việc tự ý tổ chức tham quan, du lịch hoặc xây dựng trái phép trong khu vực rừng đặc dụng sẽ bị xử lý nghiêm nhằm bảo vệ tài nguyên xanh và củng cố kỷ cương lâm nghiệp.
Nghị định 142/2026: Chính thức phân loại rủi ro AI và thiết lập Cổng thông tin một cửa

Nghị định 142/2026: Chính thức phân loại rủi ro AI và thiết lập Cổng thông tin một cửa

Nghị định số 142/2026/NĐ-CP vừa được ban hành là "kim chỉ nam" cho hoạt động phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam. Với trọng tâm là quản lý dựa trên rủi ro, Nghị định quy định rõ trách nhiệm của nhà cung cấp, thiết lập Cơ sở dữ liệu quốc gia về AI và mở ra cơ chế ưu tiên cho các sản phẩm "Make in Vietnam" tham gia vào hạ tầng chính phủ số và kinh tế số.
Bãi bỏ thuế khoán: Bốn nhóm hộ kinh doanh - bốn cách tính thuế hoàn toàn khác từ năm 2026

Bãi bỏ thuế khoán: Bốn nhóm hộ kinh doanh - bốn cách tính thuế hoàn toàn khác từ năm 2026

Cô bán xôi đầu ngõ, anh chủ cửa hàng điện thoại, chú tài xế chạy hợp đồng, chuỗi nhà hàng vài chục tỷ doanh thu, trước đây đều có thể nộp thuế khoán theo cùng một logic. Từ ngày 1/1/2026, khi ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế được nâng lên 1 tỷ đồng/năm, hộ kinh doanh được phân thành bốn nhóm với bốn cách tính thuế khác hẳn nhau. Hiểu sai nhóm dẫn đến nộp sai thuế và rủi ro pháp lý là điều rất gần.
Kiểm tra 100% lô hàng xuất khẩu đất hiếm từ ngày 6/5

Kiểm tra 100% lô hàng xuất khẩu đất hiếm từ ngày 6/5

Quy định kiểm tra thực tế toàn bộ hoạt động xuất khẩu đất hiếm có hiệu lực từ ngày 6/5 đang là vấn đề mới với doanh nghiệp, buộc phải siết chặt hồ sơ pháp lý, truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa quy trình nếu không muốn gián đoạn hoạt động xuất khẩu.