Điểm đáng chú ý của Chiến lược nằm ở cách tiếp cận không chỉ dừng ở việc mở rộng quan hệ hợp tác. Mục tiêu đặt ra là tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận, làm chủ và nâng cao năng lực phát triển các công nghệ chiến lược, qua đó phục vụ trực tiếp cho yêu cầu phát triển bền vững và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Từ tiếp cận công nghệ đến nâng năng lực phát triển
Trong bối cảnh công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, việc tiếp cận được công nghệ mới chỉ là bước đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng hấp thụ, làm chủ và từng bước phát triển công nghệ trong nước.
![]() |
| Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ đóng vai trò quan trọng để Việt Nam có hệ thống hạ tầng số quốc gia đồng bộ, hiện đại, xanh, liên thông, kết nối trong nước và quốc tế với dung lượng lớn, tốc độ cao, đủ năng lực tin cậy và khả dụng cao để phục vụ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và bảo vệ chủ quyền số (Ảnh minh họa). |
Theo Chiến lược, Việt Nam sẽ triển khai 6 nhóm giải pháp chính, gồm tạo môi trường hợp tác thuận lợi; triển khai hiệu quả các cam kết, thỏa thuận quốc tế; nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ; nâng cao năng lực phát triển công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp; đồng thời tăng cường tham mưu, đề xuất chính sách.
Cách tiếp cận này tạo thành một chuỗi tương đối rõ: từ mở rộng hợp tác và thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam hướng tới khả năng tiếp cận công nghệ, nâng năng lực phát triển và đưa doanh nghiệp trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình này.
Doanh nghiệp đứng trước cơ hội tiếp cận nguồn lực mới
Việc hỗ trợ doanh nghiệp được xác định là một nhóm giải pháp riêng trong Chiến lược. Điều này có ý nghĩa đáng chú ý khi công nghệ chiến lược không chỉ nằm trong khu vực nghiên cứu mà ngày càng gắn trực tiếp với năng lực sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thông qua hợp tác quốc tế, doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận nguồn lực, công nghệ và năng lực phát triển từ bên ngoài. Tuy nhiên, khả năng tận dụng cơ hội sẽ phụ thuộc đáng kể vào năng lực hấp thụ công nghệ của chính doanh nghiệp.
Vì vậy, mục tiêu đến năm 2030 không đơn thuần là mở rộng số lượng hoặc phạm vi hợp tác. Điểm quan trọng hơn là biến hợp tác quốc tế thành năng lực công nghệ thực tế của Việt Nam, trong đó doanh nghiệp có khả năng tiếp nhận, ứng dụng và từng bước tham gia vào quá trình phát triển công nghệ.
Hướng tới năng lực tự chủ công nghệ
Chiến lược được ban hành trong bối cảnh công nghệ chiến lược ngày càng có vai trò lớn đối với tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững cũng như quốc phòng, an ninh.
Theo định hướng mới, hợp tác quốc tế sẽ được sử dụng để huy động nguồn lực phục vụ phát triển công nghệ chiến lược, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Đây là hai mục tiêu cần được triển khai song song: chủ động mở cửa để tiếp nhận tri thức, công nghệ và nguồn lực quốc tế, nhưng đồng thời phải nâng năng lực nội tại để không phụ thuộc đơn thuần vào việc tiếp nhận từ bên ngoài.
Với 6 nhóm giải pháp được đặt ra, Chiến lược hướng tới tạo nền tảng hợp tác thuận lợi hơn, nâng khả năng tiếp cận và phát triển công nghệ, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào quá trình này.
Đích đến của Chiến lược là đóng góp thiết thực cho phát triển công nghệ chiến lược phục vụ phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam tận dụng tốt hơn nguồn lực quốc tế trong khi từng bước hình thành năng lực công nghệ của chính mình.