Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết 218/NQ-CP đang đặt khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Làm chủ biển trước hết là làm chủ dữ liệu
Một trong những thay đổi đáng chú ý của định hướng mới là cách nhìn về khoa học biển. Không chỉ điều tra, nghiên cứu và đưa từng công nghệ vào ứng dụng, Việt Nam cần hình thành năng lực khoa học biển quốc gia đủ mạnh để phục vụ quản trị, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và chủ quyền.
![]() |
| Cảng Hateco Hải Phòng (HHIT) là cảng biển nước sâu hiện đại nhất Việt Nam có quy mô lớn nhất khu vực miền Bắc (Ảnh: https://baochinhphu.vn). |
Tại Hội thảo về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW tổ chức tại Khánh Hòa hồi tháng 8/2026, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu coi dữ liệu biển là một hạ tầng chiến lược quốc gia.
Thực tế, Việt Nam đã tích lũy dữ liệu từ địa chất, địa vật lý, hải dương học, khí tượng, môi trường, sinh học, viễn thám và khảo sát tài nguyên. Vấn đề là nguồn dữ liệu này còn phân tán, thiếu chuẩn kết nối và chưa được khai thác đồng bộ.
Khoảng trống dữ liệu vẫn rất lớn. Theo thông tin được nêu tại hội thảo, điều tra địa chất và khoáng sản ở tỷ lệ 1:100.000 mới bao phủ khoảng 7,5% diện tích biển, trong khi hải đồ ở cùng tỷ lệ đạt khoảng 23,4%.
Những con số này không chỉ mang ý nghĩa chuyên môn. Khi Việt Nam mở rộng không gian phát triển ra xa bờ, triển khai công trình biển, cáp ngầm, năng lượng ngoài khơi hay các hoạt động kinh tế biển sâu, dữ liệu nền trở thành điều kiện đầu vào của quy hoạch, thiết kế, dự báo và quản trị rủi ro.
Từ dữ liệu đến “bản sao số” của biển
Nếu dữ liệu được xem là hạ tầng, bước tiếp theo là tạo ra năng lực xử lý và mô phỏng dữ liệu đó.
Theo định hướng đang được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nghiên cứu, hệ thống khoa học biển tương lai cần kết nối điều tra cơ bản, quan trắc, dữ liệu, mô hình hóa và dự báo. Trong đó, Digital Ocean và bản sao số đại dương (Digital Twin Ocean) được xác định là hướng phát triển đáng chú ý.
Về bản chất, bản sao số cho phép tái hiện một vùng biển trên không gian số và liên tục cập nhật dữ liệu từ các nguồn như tàu nghiên cứu, vệ tinh, phao quan trắc, radar biển hay robot dưới nước. Khi đó, nhà quản lý có thể mô phỏng các kịch bản trước khi đưa ra quyết định về quy hoạch, thiên tai, sự cố môi trường hoặc khai thác không gian biển.
Đây cũng là nơi AI, dữ liệu lớn, cảm biến và hệ thống quan trắc tự động chuyển từ khái niệm công nghệ thành công cụ quản trị biển.
Không thể làm chủ công nghệ nếu thiếu tổ chức nghiên cứu mạnh
Một yêu cầu khác được đặt ra là xây dựng các tổ chức nghiên cứu biển đủ sức tập hợp chuyên gia, sở hữu hạ tầng hiện đại và giải quyết những bài toán lớn.
![]() |
| Việt Nam đang tập trung phát triển nuôi biển như một mũi nhọn kinh tế và công cụ khẳng định chủ quyền, hướng đến một nền nghề cá hiện đại và bền vững. Bước đột phá then chốt của chiến lược này chính là cuộc chuyển đổi hạ tầng toàn diện từ các vật liệu truyền thống sang vật liệu HDPE công nghệ cao – chiếc chìa khóa vạn năng để chinh phục biển khơi. |
Theo định hướng triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW, Việt Nam hướng tới hình thành từ 2-3 tổ chức nghiên cứu về khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN. Chỉ tiêu này được nhìn nhận không đơn thuần là tăng số lượng viện, trung tâm nghiên cứu, mà nhằm tạo ra những hạt nhân có khả năng tích tụ nhân lực, dữ liệu, thiết bị và công nghệ.
Bài toán vì thế không còn là chia nhỏ nguồn lực cho nhiều đề tài. Những chương trình nghiên cứu lớn cần kéo được viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia, từ xác định nhu cầu đến thử nghiệm và thương mại hóa.
Cách làm này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và công nghệ chiến lược phải được coi là những thành tố cốt lõi của năng lực quốc gia, đồng thời từng bước tự chủ về công nghệ.
Những công nghệ biển phải được làm chủ
Từ yêu cầu đó, danh mục công nghệ biển chiến lược sẽ không chỉ nằm trong phòng thí nghiệm.
Đó có thể là công nghệ khảo sát biển sâu và đáy biển, robot dưới nước, quan trắc tự động, công nghệ sinh học biển, nuôi biển xa bờ, lưu trữ các-bon ngoài khơi, điện gió và các dạng năng lượng biển. Khi được kết nối với AI và hạ tầng dữ liệu, các công nghệ này có thể tạo thành một hệ thống năng lực thay vì những ứng dụng riêng lẻ.
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải có vị trí trong chuỗi này. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận kết quả nghiên cứu, mà cần tham gia từ lúc xác định bài toán, đặt hàng công nghệ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa.
Khi đó, khoa học biển mới tạo ra giá trị kinh tế cụ thể: dữ liệu tốt hơn giúp quy hoạch chính xác hơn; công nghệ tốt hơn giúp giảm chi phí và rủi ro; nghiên cứu tốt hơn tạo ra sản phẩm, dịch vụ và ngành kinh tế mới.
Làm chủ biển vì vậy không chỉ là hiện diện trên biển. Đó còn là khả năng đo được, hiểu được, dự báo được và can thiệp bằng công nghệ vào những vấn đề đang diễn ra trên biển.
Từ dữ liệu nền, hạ tầng nghiên cứu đến công nghệ biển sâu, Việt Nam đang đặt bài toán xây dựng một năng lực mới cho quốc gia biển. Đây sẽ là nền tảng để phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, đồng thời tăng khả năng quản trị không gian biển và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.