Một chiếc lồng nuôi có thể chỉ là phần nổi trên mặt biển, nhưng phía sau nó là cả một câu chuyện về cách nghề cá thay đổi. Khi nuôi biển được đặt trong bài toán sản xuất hàng hóa, những chiếc lồng gỗ nhỏ lẻ không còn đủ để đáp ứng yêu cầu về độ bền, quy mô và quản lý.
Không thể mở rộng nuôi biển bằng cách cũ
Việt Nam đã xác định nuôi biển là một hướng phát triển quan trọng của kinh tế biển. Quyết định 1664/QĐ-TTg ngày 4/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt mục tiêu đưa nuôi biển trở thành ngành sản xuất hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp, đồng bộ, an toàn, hiệu quả và bền vững.
![]() |
| Khác với lồng gỗ dễ vỡ, lồng HDPE sở hữu kết cấu mềm dẻo, đàn hồi, có khả năng tự nổi và chịu được sóng gió (Ảnh: https://tepbac.com). |
Đến năm 2025, Đề án đặt mục tiêu sản lượng nuôi biển đạt 850.000 tấn, diện tích 280.000 ha và thể tích lồng nuôi 10 triệu m³.
Những mục tiêu này đặt ra một yêu cầu rất thực tế: muốn tăng sản lượng thì không thể chỉ tăng thêm số hộ và số lồng nhỏ lẻ.
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đánh giá lồng nuôi truyền thống bằng tre, gỗ còn phổ biến, trong khi những vật liệu này dễ hư hỏng khi gặp gió bão. Công nghệ nuôi biển xa bờ, hệ thống lồng chịu sóng và thiết bị theo dõi từ xa vẫn cần tiếp tục được phát triển.
Đây là khoảng trống mà lồng HDPE đang từng bước được đưa vào.
HDPE thay đổi bài toán, mang lại hiệu quả từ ngoài khơi
HDPE có ưu thế về độ bền và khả năng chịu tác động của môi trường nước biển. Khi được thiết kế thành các hệ thống lồng tròn, vật liệu này có thể tạo kết cấu ổn định hơn so với nhiều dạng lồng gỗ truyền thống.
Thực tế tại Khánh Hòa là ví đụ điển hình cho thấy hướng chuyển đổi này đã được triển khai và mang lại kết quả hữu hiệu. Các hộ nuôi biển tại khu vực Đầm Bấy đã sử dụng lồng tròn HDPE để nuôi cá chim vây vàng, cá bớp ở vùng biển 6 hải lý. Hệ thống lồng có khả năng chịu sóng gió tốt và phù hợp với điều kiện nuôi xa bờ. Một số lồng còn được trang bị camera, thiết bị định vị để người nuôi theo dõi hoạt động ngay trên điện thoại.
Như vậy, giá trị của HDPE không chỉ nằm ở việc thay một vật liệu bằng vật liệu khác. Quan trọng hơn, nó mở đường cho cách tổ chức sản xuất có tính công nghiệp hơn.
Khi lồng có kích thước lớn, được bố trí theo quy hoạch và kết hợp với thiết bị giám sát, người nuôi có thể quản lý nhiều đối tượng nuôi trong một không gian rộng hơn. Công việc theo dõi môi trường, chăm sóc đàn cá và kiểm soát hoạt động của lồng cũng có điều kiện chuyển dần sang ứng dụng công nghệ.
![]() |
| Quản lý hệ thống lồng HDPE hiệu quả là yếu tố quyết định thành bại trong nuôi trồng thủy sản hiện đại. Với chất liệu HDPE siêu bền, hệ thống lồng đã trở thành giải pháp tối ưu cho nhiều hộ nuôi. |
Tại Khánh Hòa, một số mô hình nuôi biển công nghệ cao cho thấy hiệu quả lao động được cải thiện đáng kể khi chuyển sang hệ thống lồng mới. Đây cũng là cơ sở để địa phương mở rộng mô hình nuôi biển công nghệ cao theo hướng tập trung, có sự tham gia của hợp tác xã và doanh nghiệp.
Từ chiếc lồng đến một chuỗi sản xuất
Điều đáng chú ý là công nghệ lồng chỉ là một mắt xích.
Nếu vẫn thiếu con giống chất lượng, thức ăn, dịch vụ kỹ thuật, hệ thống thu hoạch, vận chuyển, chế biến và thị trường, việc đầu tư lồng hiện đại khó tạo ra một ngành sản xuất lớn.
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cũng chỉ ra nhiều hạn chế của nuôi biển hiện nay, trong đó có chi phí vận chuyển giống, thức ăn và sản phẩm; thiếu thiết bị chuyên dụng cho nuôi biển khơi; nguồn giống chất lượng cao chưa ổn định và khả năng tiếp cận vốn của người nuôi, doanh nghiệp còn khó khăn.
Vì thế, cuộc chuyển đổi sang HDPE chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng quy hoạch vùng nuôi, giao khu vực biển, công nghệ giám sát, nguồn giống, vốn và đầu ra sản phẩm.
Đây cũng là lý do vai trò của doanh nghiệp ngày càng rõ hơn. Doanh nghiệp không chỉ cung cấp lồng mà còn có thể tham gia từ con giống, thức ăn, công nghệ quản lý đến thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Khi các mắt xích được kết nối, người nuôi sẽ không còn phải tự xoay xở từng khâu. Mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân sẽ trở thành nền tảng để chuyển từ sản xuất hộ gia đình sang sản xuất hàng hóa.
Biển rộng hơn, yêu cầu quản lý cũng cao hơn
Mở rộng không gian nuôi ra biển cũng đồng nghĩa với việc phải quản lý chặt hơn tác động đến môi trường.
Nuôi biển tập trung nếu thiếu quy hoạch có thể làm gia tăng chất thải, ảnh hưởng chất lượng nước và tạo áp lực lên hệ sinh thái. Vì vậy, công nghệ lồng hiện đại không thể thay thế công tác quản lý môi trường.
Theo quy định hiện hành, thời hạn giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản không quá 50 năm, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân đầu tư dài hạn nhưng đồng thời gắn hoạt động nuôi với quản lý không gian biển.
Đích đến của nuôi biển công nghệ cao vì thế không phải là có thật nhiều lồng HDPE trên mặt nước. Đích đến là hình thành những vùng nuôi được quy hoạch, kiểm soát môi trường, ứng dụng công nghệ và kết nối được với thị trường.
Từ Lâm Đồng đến Khánh Hòa và nhiều vùng biển khác, sự xuất hiện ngày càng nhiều của lồng HDPE đang cho thấy nghề nuôi biển Việt Nam bắt đầu thay đổi từ bên trong. Khi chiếc lồng chắc hơn, phương thức quản lý cũng phải thay đổi theo.
Đó là bước chuyển cần thiết nếu nuôi biển muốn đi từ sinh kế ven bờ thành một ngành sản xuất hàng hóa có quy mô và sức cạnh tranh.
| Công nghệ lồng HDPE thích ứng với biến đổi khí hậu
|