Theo VCCI, việc trao quyền quyết định giá cho doanh nghiệp phù hợp với khoản 1 Điều 8 Luật Giá số 16/2023/QH15. Tuy nhiên, khi thương nhân tự xác định lợi nhuận, công thức giá quy định tại Điều 28 của dự thảo cần được sử dụng làm căn cứ minh bạch hóa, giải trình và giám sát quá trình hình thành giá, thay vì trở thành công cụ áp đặt mức lợi nhuận hoặc chi phí ngoài phạm vi pháp luật quy định.
VCCI cũng lưu ý, yêu cầu phân tích biến động của từng yếu tố so với kỳ điều chỉnh liền trước trong mỗi lần thay đổi giá có thể làm gia tăng gánh nặng tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ khi giá được điều chỉnh thường xuyên. Vì vậy, hoạt động kiểm tra cần tập trung vào tính chính xác, trung thực của dữ liệu và việc chấp hành pháp luật về giá, cạnh tranh, đồng thời bảo đảm quyền tự quyết định giá của thương nhân.
![]() |
| VCCI đề xuất gỡ vướng cơ chế giá xăng dầu, giảm thủ tục kê khai cho doanh nghiệp |
Một vấn đề khác được VCCI chỉ ra là sự trùng lặp giữa điểm b và điểm c khoản 2 Điều 28 về giá bán của thương nhân phân phối độc lập. Cơ quan này đề nghị cơ quan soạn thảo hợp nhất các nội dung hoặc phân định rõ phạm vi áp dụng để tránh cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Đối với giá bán tại địa bàn xa, VCCI cho rằng cần xem xét sự khác biệt giữa cơ chế áp dụng cho thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối độc lập. Theo khoản 2 Điều 27 của dự thảo, thương nhân đầu mối được quyết định giá bán tại địa bàn xa trên cơ sở chi phí thực tế. Trong khi đó, thương nhân phân phối độc lập bị giới hạn bởi mức giá cao nhất do thương nhân đầu mối công bố tại cùng địa bàn, dù chi phí vận chuyển và quy mô kinh doanh có thể khác biệt.
Từ thực tế này, VCCI kiến nghị rà soát quy định nhằm bảo đảm cơ chế giá phản ánh phù hợp điều kiện kinh doanh, tránh tạo ra sự thiếu tương thích giữa chi phí thực tế và giới hạn giá áp dụng đối với từng nhóm thương nhân.
Với trường hợp phát hiện dấu hiệu giá tăng bất hợp lý, dự thảo cho phép áp dụng giá tối đa, khung giá hoặc giá cụ thể. VCCI đề nghị làm rõ điều kiện, thẩm quyền và trình tự thực hiện, đồng thời xác định rõ mối quan hệ giữa biện pháp này với cơ chế bình ổn giá theo pháp luật hiện hành.
Theo VCCI, nếu đây là biện pháp bình ổn giá, việc triển khai cần tuân thủ quy định của pháp luật về giá và trình tự tại Điều 31 của dự thảo, tránh hình thành cơ chế can thiệp song song dựa trên những dấu hiệu chưa được xác định rõ.
Bên cạnh cơ chế điều hành giá, VCCI đề nghị rà soát khoản 3 Điều 29 của dự thảo để bảo đảm phù hợp với Luật Cạnh tranh. Theo cơ quan này, việc đưa ngưỡng thị phần kết hợp 30% vào quy định có thể dẫn đến cách hiểu rằng phạm vi phát hiện, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị thu hẹp.
VCCI nhấn mạnh, biến động khách quan của các yếu tố hình thành giá cần được xem xét khi đánh giá hành vi của doanh nghiệp, nhưng không nên trở thành điều kiện loại trừ việc xem xét thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Cùng với đó, khái niệm “áp đặt giá bán bất hợp lý” cần được làm rõ theo hướng dẫn chiếu đến hành vi tương ứng được quy định trong Luật Cạnh tranh, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đối với công tác giám sát, VCCI kiến nghị giao Bộ Công Thương và UBND cấp tỉnh theo dõi dữ liệu kê khai giá, phát hiện dấu hiệu vi phạm và chuyển thông tin, tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định; đồng thời đề xuất bỏ ngưỡng thị phần kết hợp 30% trong dự thảo.
Về kê khai giá, VCCI cho rằng cần thiết kế thủ tục phù hợp hơn với cách thức vận hành của hệ thống phân phối xăng dầu. Theo dự thảo, thương nhân phân phối thuộc hệ thống của thương nhân đầu mối vẫn có quyền quyết định giá bán thấp hơn mức giá đầu mối công bố và không bắt buộc phải tăng giá khi giá đầu mối tăng.
Trong trường hợp thương nhân phân phối áp dụng đúng mức giá đã được thương nhân đầu mối kê khai, việc yêu cầu kê khai riêng có thể tạo ra thủ tục trùng lặp, làm tăng chi phí tuân thủ mà chưa thực sự cần thiết.
Do đó, VCCI đề xuất cho phép kê khai một lần thông qua hệ thống kết nối dữ liệu, không yêu cầu kê khai riêng đối với thương nhân phân phối áp dụng đúng mức giá đã được đầu mối kê khai. Trường hợp quyết định mức giá khác, thương nhân có thể thực hiện kê khai bằng phương thức điện tử đơn giản.
VCCI cũng lưu ý quy định yêu cầu hoàn thành kê khai chậm nhất vào cuối ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày giá mới có hiệu lực có thể tạo áp lực cho doanh nghiệp chưa có hệ thống kê khai tự động. Cơ quan này đề nghị rà soát thời hạn tại điểm đ khoản 2 Điều 29, bảo đảm tương thích với quy định chung về kê khai giá tại Nghị định số 85/2024/NĐ-CP.
Theo hướng kiến nghị, thời hạn kê khai vào cuối ngày làm việc tiếp theo chỉ nên áp dụng khi việc kê khai được thực hiện tự động; các trường hợp còn lại cần được xem xét để thống nhất với quy định chung.
