Thứ sáu 16/10/2026 04:45
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

TS Võ Duy Nghi: Nhận diện gót chân Achilles của ngành logistics Việt Nam

20/10/2021 10:12
Logistics được kỳ vọng sẽ là ngành kinh tế không những có đóng góp rất lớn vào tỷ trọng GDP mà còn có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn đứt gãy chuỗi cung ứng, giúp các ngành kinh tế khác phục hồi và phát triển sau đại dịch. Tuy nhiên, qua đợt

Chính phủ nên ưu tiên cải thiện cơ sở hạ tầng ngành đường sắt một trong những phương thức vận tải lạc hậu nhất của logistics để chia lửa, giảm tải cho hệ thống đường bộ. Ảnh: N.K
Chính phủ nên ưu tiên cải thiện cơ sở hạ tầng ngành đường sắt một trong những phương thức vận tải lạc hậu nhất của logistics để chia lửa, giảm tải cho hệ thống đường bộ. Ảnh: N.K.

Những căn bệnh trầm kha cần thuốc chữa

Một trong những điểm yếu đầu tiên cần phải nói tới là chi phí logistics. Nhiều nghiên cứu cho thấy chi phí logistics ở Việt Nam hiện rất cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chi phí logistics cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vì giá thành sản phẩm mất đi tính cạnh tranh.

Những yếu tố góp phần đẩy chi phí logistics lên cao bao gồm chi phí vận tải nội địa và quốc tế, cảng phí, giá xăng dầu, lệ phí cầu đường và cả tiêu cực phí. Nhiều doanh nghiệp phải kêu trời khi chi phí logistics tuyến Bắc – Nam còn cao hơn cả cước đường biển từ Việt Nam đi Singapore, Thượng Hải. Mặt khác do Việt Nam chưa có một đội tàu đủ mạnh để bình ổn giá cước đường biển đi tuyến quốc tế nên chi phí logistics phần lớn do các hãng tàu nước ngoài quyết định.

Hạ tầng giao thông là điểm yếu thứ hai của ngành logistics. Mặc dù trong những năm qua Chính phủ đã ưu tiên phần lớn ngân sách để đầu tư cho hệ thống hạ tầng giao thông như cảng biển, sân bay, đường cao tốc… tuy nhiên do nhiều lý do như giải ngân chậm, đầu tư không đồng bộ nên hệ thống hạ tầng giao thông hiện nay vẫn chưa đáp ứng được tốc độ phát triển của nền kinh tế.

Hạ tầng giao thông chậm phát triển, chưa đồng bộ là nguyên nhân chính dẫn đến chi phí cao, thời gian giao hàng chậm. Đặc biệt, ngành đường sắt được xem là một trong những phương thức vận tải chủ lực nhưng cơ sở hạ tầng còn rất lạc lậu, thời gian vận chuyển kéo dài, năng lực bốc xếp hạn chế.

Vấn đề kết nối các phương thức vận tải luôn được xem là ưu tiên hàng đầu khi xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển logistics nhưng có vẻ như bị xem nhẹ trong thời gian qua. Có cảm giác mạnh ngành nào ngành ấy làm.

Chính tư duy cục bộ địa phương đã làm suy yếu ngành logistics, làm cho hệ thống logistics thiếu sự kết nối đồng bộ. Có thể thấy những vấn đề nổi cộm, như cảng biển không kết được hệ thống đường cao tốc, đường sắt không kết nối được với sân bay, cảng biển dẫn đến tình trạng hàng hóa ùn tắc ở cảng biển, sân bay làm gia tăng chi phí lưu kho, lưu bãi, chậm đưa hàng hóa vào sản xuất lưu thông, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế.

Hệ thống pháp lý chưa đồng bộ, rắc rối cũng là vấn đề nhức nhối mà nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics than phiền. Rất nhiều quy định của nhiều bộ ngành liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và logistics chồng chéo lẫn nhau, gây khó cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho nhũng nhiễu, tiêu cực trong ngành phát sinh.

Hệ thống thông quan điện tử VNACCS được xem là bước tiến rất lớn của ngành hải quan trong việc minh bạch, rút ngắn thời gian làm thủ tục thông quan, xuất nhập khẩu hàng hóa tuy nhiên vẫn còn nhiều kẽ hở, gây rắc rối, phát sinh tiêu cực nếu phải bị kiểm hóa, tham vấn thuế… Bên cạnh đó rất nhiều giấy phép kiểm tra chuyên ngành của các bộ ngành về điều kiện nhập khẩu được coi là giấy phép con hành doanh nghiệp, kéo dài thời gian thông quan, làm gia tăng chi phí logistics.

Nói đến gót chân Achilles của ngành logistics không thể bỏ qua vấn đề công nghệ hay chuyển đổi số. Một ngành kinh tế chủ chốt như logistics nhưng đáng buồn khi có đến trên 90% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, nguồn lực hạn chế nên công nghệ logistics đối với những doanh nghiệp này là xa vời. Logistics hiện đại đã phát triển đến loại hình 4PL và 5PL, trong đó công nghệ là yếu tố then chốt, hàng đầu nhưng số lượng doanh nghiệp Việt Nam ở loại hình này có thể đếm trên đầu ngón tay.

Vấn đề cuối cùng là chất lượng nguồn nhân lực logistics của Việt Nam hiện nay đang yếu và thiếu. Trong những năm gần đây nhiều trường đại học đã mở chuyên ngành logistics và chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Tuy nhiên do cung không đủ cầu nên nhiều doanh nghiệp chấp nhận tuyển dụng nhân lực từ các ngành nghề khác và đào tạo lại từ đầu. Đây chính là sự lãng phí không hề nhỏ cho nguồn lực của toàn xã hội. Mặt khác, việc đào tạo tại một số trường đại học và cơ sở giáo dục cũng thiếu tính thực tiễn nên sau khi ra trường doanh nghiệp cũng phải cầm tay chỉ việc lại từ đầu, tốn thêm thời gian và chi phí.

Cần những chính sách tầm vĩ mô

Để chữa lành các căn bệnh trầm kha của ngành logistics, Chính phủ cần có những liều thuốc đặc trị, đó là những chính sách dài hơi để khắc phục những điểm yếu cố hữu, nâng tầm ngành logistics. Muốn vậy, thiết nghĩ Chính phủ nên thực hiện một số giải pháp thiết thực như sau:

Một là, cần đặt ra mục tiêu cắt giảm chi phí logistics hàng năm và dài hạn để nâng cao tính cạnh tranh cho nền kinh tế nói chung và ngành logistics nói riêng. Đây là một công việc khó khăn và nặng nề, cần thực hiện lâu dài và sự phối hợp nhiều bộ ngành.

Những thay đổi chính sách pháp luật phù hợp, minh bạch sẽ giúp cắt giảm chi phí tiêu cực trong các lĩnh vực hải quan, thuế, cảng biển, đường bộ. Cắt giảm các thủ tục hành chính, các giấy phép con trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, logistics sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, công sức và cắt giảm được chi phí. Đối với cước vận tải biển quốc tế, cần xây dựng lộ trình dài hơi phát triển đội tàu biển để tránh phụ thuộc vào các hãng tàu nước ngoài.

Cần lưu ý phát triển từng bước, có trọng tâm, trọng điểm tránh vết xe đổ của Vinalines trước đây. Đầu tư đội tàu biển mạnh đồng nghĩa với giá cước phải cạnh tranh để các doanh nghiệp Việt Nam đang ưa chuộng hình thức mua CIF, bán FOB hiện nay chuyển sang chủ động giành quyền thuê tàu, giúp ngành logistics và doanh nghiệp cùng hưởng lợi theo nguyên tắc win-win chứ không thể dùng các biện pháp hành chính hoặc kêu gọi được.

Hai là, trong quy hoạch dài hạn và trung hạn, cần ưu tiên kết nối các phương thức vận tải đường bộ – đường sắt – đường biển – hàng không. Cần xóa bỏ tư duy địa phương cục bộ của các bộ ngành, địa phương khi quy hoạch hệ thống giao thông. Chính phủ cần nói không ngay từ đầu đối với các dự án xây dựng sân bay, cảng biển không chứng minh được tính kết nối với các phương thức vận tải khác. Nếu không, hàng chục năm sau nhà nước lại phải đau đầu với bài toán ùn tắc giao thông, giải phóng mặt bằng.

Ba là, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông: sân bay, cảng biển, đường sắt, hệ thống đường cao tốc để tạo điều kiện cho ngành logistics phát triển. Đặc biệt, Chính phủ nên ưu tiên cải thiện cơ sở hạ tầng ngành đường sắt một trong những phương thức vận tải lạc hậu nhất của logistics để chia lửa, giảm tải cho hệ thống đường bộ, trong đó ưu tiên nâng cao tốc độ chạy tàu và năng lực xếp dỡ tại các ga hàng hóa lớn, như Sóng Thần, Đà Nẵng, Yên Viên.

Vấn đề thứ tư là cần có chính sách tài chính phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ cải thiện công nghệ, nhanh chóng chuyển đổi số để tăng khả năng canh trạnh và chiếm lĩnh thị phần. Ưu tiên phát triển các phần mềm dùng chung, chia sẻ tài nguyên cho các doanh nghiệp loại hình này để tiết kiệm chi phí và tránh lãng phí nguồn lực.

Cuối cùng là tập trung phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực logistics. Các trường đại học nên rà soát lại chương trình học hằng năm để phù hợp với thực tiễn phát triển ngành logistics. Chương trình giảng dạy nên thiết kế mời các chuyên gia trong lĩnh vực logistics tham gia giảng dạy để truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn của doanh nghiệp cho sinh viên. Chính phủ có thể có chính sách hỗ trợ nguồn kinh phí để giúp các doanh nghiệp đào tạo và đào tạo lại nhân viên hàng năm.

TS Võ Duy Nghi - Giảng viên Viện quản trị kinh doanh FSB – Đại học FPT

Bài liên quan
Tin bài khác
Xuất khẩu hoa cúc sang Nhật Bản thu gần 800 tỷ đồng trong 8 tháng

Xuất khẩu hoa cúc sang Nhật Bản thu gần 800 tỷ đồng trong 8 tháng

Hoa cúc Việt Nam mang về 30,45 triệu USD từ thị trường Nhật Bản trong 8 tháng đầu năm 2026, dẫn đầu về kim ngạch trong nhóm 20 mặt hàng được thống kê.
Khánh Hòa đặt mục tiêu 80% điểm du lịch đạt nhãn xanh vào năm 2030

Khánh Hòa đặt mục tiêu 80% điểm du lịch đạt nhãn xanh vào năm 2030

Khánh Hòa đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% điểm du lịch và cơ sở kinh doanh du lịch được dán nhãn xanh, cam kết không sử dụng nhựa dùng một lần; 95% cơ sở lưu trú đầu tư và sử dụng năng lượng tái tạo. Tỉnh đang triển khai bộ tiêu chuẩn du lịch xanh, khuyến khích doanh nghiệp giảm rác thải nhựa và thúc đẩy các mô hình phát triển bền vững.
M&A xuyên biên giới: Thêm hướng đi cho doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường

M&A xuyên biên giới: Thêm hướng đi cho doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường

Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tìm kiếm cơ hội tiếp cận vốn, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) xuyên biên giới đang mở ra một hướng đi đáng chú ý.
Doanh nghiệp FDI cần rà soát giấy phép kinh doanh trước ngày 18/10

Doanh nghiệp FDI cần rà soát giấy phép kinh doanh trước ngày 18/10

Từ ngày 18/10/2026, Nghị định 342/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Doanh nghiệp cần đối chiếu hoạt động đang thực hiện với phạm vi giấy phép và điều kiện pháp lý tương ứng, nhất là trong các lĩnh vực phân phối, logistics và thương mại điện tử.
TP. Hồ Chí Minh đưa AI vào hành trình khám phá du lịch

TP. Hồ Chí Minh đưa AI vào hành trình khám phá du lịch

Lấy chất lượng điểm đến và sự hài lòng của du khách làm thước đo, chương trình truyền thông, quảng bá du lịch “Thành phố Hồ Chí Minh – Sống động từng trải nghiệm” hướng đến kết nối thương hiệu với sản phẩm thực tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và gia tăng sức cạnh tranh cho du lịch Thành phố.
Kết nối FDI - doanh nghiệp Việt: Mở đường nâng tỷ lệ nội địa hóa

Kết nối FDI - doanh nghiệp Việt: Mở đường nâng tỷ lệ nội địa hóa

Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt không chỉ giúp mở rộng thị trường cho công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, mà còn tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất, gia tăng giá trị nội địa và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Đây là vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn Công nghiệp Hỗ trợ tổ chức ngày 14/10 tại Hà Nội.
Xuất khẩu rau quả tăng gần 20%, kỳ vọng cán mốc 10 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả tăng gần 20%, kỳ vọng cán mốc 10 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026, mở ra triển vọng cán mốc kỷ lục 10 tỷ USD nhờ nhu cầu thị trường và nguồn cung thuận lợi.
Nhà đầu tư Hoa Kỳ kiến nghị gỡ vướng thủ tục để mở rộng đầu tư

Nhà đầu tư Hoa Kỳ kiến nghị gỡ vướng thủ tục để mở rộng đầu tư

Tại cuộc tiếp của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc với Đại sứ Hoa Kỳ Jennifer Wicks và đại diện các nhà đầu tư Hoa Kỳ ngày 14/10, nhiều kiến nghị tập trung vào cải cách thủ tục đầu tư, phát triển công nghệ cao, hoàn thiện hạ tầng năng lượng và mở rộng cơ hội tham gia chuỗi cung ứng. Những đề xuất này đặt ra yêu cầu chuyển đối thoại doanh nghiệp thành các giải pháp chính sách có thể triển khai trong thực tế.
Xuất khẩu bán dẫn tăng nhanh, doanh nghiệp Việt cần tìm chỗ đứng trong chuỗi giá trị

Xuất khẩu bán dẫn tăng nhanh, doanh nghiệp Việt cần tìm chỗ đứng trong chuỗi giá trị

Xuất khẩu chất bán dẫn của Việt Nam tăng trưởng kép bình quân 31,8% mỗi năm trong giai đoạn 2006–2025, theo báo cáo do FedEx phối hợp Frost & Sullivan thực hiện. Tuy nhiên, để biến đà tăng thương mại thành năng lực công nghiệp bền vững, doanh nghiệp trong nước cần tìm được vị trí phù hợp ở các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Thông tư 63/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, đặt ra yêu cầu cụ thể về hồ sơ truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Doanh nghiệp phải tổ chức thông tin xuyên suốt từ nguyên liệu, sản xuất đến phân phối, bảo đảm có thể cung cấp hồ sơ trong vòng 24 giờ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Doanh nhân nông nghiệp nhiệt đới gỡ nút thắt vốn và thị trường

Doanh nhân nông nghiệp nhiệt đới gỡ nút thắt vốn và thị trường

Doanh nhân nông nghiệp nhiệt đới đang tìm cách tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, vùng nguyên liệu và pháp lý. Với gần 100 hội viên, COTAB kết nối doanh nghiệp, cơ quan quản lý, ngân hàng và chuyên gia nhằm hỗ trợ chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu và thúc đẩy nông nghiệp xanh, hiệu quả phụ thuộc vào khả năng hợp tác thực chất.
Doanh nghiệp Việt trước yêu cầu thực hành ESG để giữ vị thế trong chuỗi cung ứng

Doanh nghiệp Việt trước yêu cầu thực hành ESG để giữ vị thế trong chuỗi cung ứng

Thực hành ESG đang trở thành yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp Việt đáp ứng tiêu chuẩn xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Doanh nghiệp Việt mở rộng cơ hội xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới

Doanh nghiệp Việt mở rộng cơ hội xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở thêm kênh xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt, giúp rút ngắn khoảng cách với người tiêu dùng quốc tế và mở rộng dư địa tăng trưởng.
Nhà cho thuê: HoREA đề xuất mở rộng nguồn cung từ tư nhân

Nhà cho thuê: HoREA đề xuất mở rộng nguồn cung từ tư nhân

Bài toán nhà ở không chỉ nằm ở việc xác định ai được thuê mà còn ở việc có đủ nhà để thuê. HoREA đề xuất mở rộng loại hình nhà cho thuê, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân cùng tham gia phát triển nguồn cung.
BNI APAC SME’s Expo 2026: Điểm kết nối doanh nghiệp khu vực

BNI APAC SME’s Expo 2026: Điểm kết nối doanh nghiệp khu vực

Từ ngày 8 đến 10/10/2026, BNI APAC SME’s Expo 2026 do BNI Việt Nam tổ chức sẽ diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, tạo không gian để cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Việt Nam và doanh nghiệp từ nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương gặp gỡ, tìm hiểu nhu cầu của nhau và tìm kiếm cơ hội hợp tác, giao thương.