Tại chương trình Café Doanh nhân HUBA lần thứ 91, đồng thời kỷ niệm 10 năm Café Doanh nhân HUBA, các chuyên gia kinh tế, ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp đã cùng thảo luận chủ đề hợp lực để tăng trưởng cao gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt đối với TP.HCM.
![]() |
| HUBA kỷ niệm 10 năm Café Doanh nhân HUBA. Ảnh- Bích Liên |
Một thông điệp xuyên suốt được đặt ra là TP.HCM muốn hướng tới tăng trưởng hai con số thì không thể chỉ tìm cách mở rộng quy mô, tăng sản lượng hoặc tăng tín dụng, mà phải giải đồng thời bài toán vốn, năng suất, thị trường, thể chế và chất lượng doanh nghiệp.
Tăng trưởng 8,55%, nhưng TP.HCM vẫn còn nhiều việc phải làm
Theo số liệu được TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia trình bày tại chương trình, bức tranh kinh tế TP.HCM đang cho thấy nhiều tín hiệu tích cực nhưng chưa đủ để chủ quan.
GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của TP.HCM tăng 8,55%, cao hơn mức tăng của năm trước, nhưng xét về tốc độ tăng trưởng, Thành phố đứng thứ 18 trong 34 tỉnh, thành phố.
![]() |
| TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trình bày tham luận tại sự kiện |
Trong 7 tháng đầu năm, TP.HCM có 34.096 doanh nghiệp gia nhập thị trường, tăng 22,8%. Riêng số doanh nghiệp thành lập mới là 34.096 doanh nghiệp; vốn đăng ký mới đạt khoảng 225.883 tỷ đồng, tăng 38,6%. Tuy nhiên, vốn đăng ký bình quân chỉ khoảng 6,6 tỷ đồng/doanh nghiệp, thấp hơn mức 12,1 tỷ đồng bình quân cả nước và 19,7 tỷ đồng tại Hà Nội.
Đây là một điểm đáng lưu ý. TP.HCM là đầu tàu kinh tế lớn nhất cả nước, có gần 300.000 doanh nghiệp đang hoạt động và hơn 661.000 hộ kinh doanh, nhưng quy mô vốn của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn nhỏ. Năm 2025, Thành phố có 59.833 doanh nghiệp thành lập mới và tổng số doanh nghiệp đang hoạt động đạt 296.760 đơn vị.
Theo các chuyên gia, để tăng trưởng hai con số, Thành phố phải làm cho chính khối doanh nghiệp này lớn lên cả về quy mô, năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị.
Không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng
Một vấn đề được thảo luận khá sâu tại chương trình là bài toán huy động vốn cho nền kinh tế.
Theo ý kiến tại tọa đàm, tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế hiện ở mức khoảng 35% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư vào khoảng trên 30% GDP.
Điều quan trọng là làm thế nào đưa phần nguồn lực còn nằm trong dân vào hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh một cách an toàn, minh bạch và hiệu quả.
Các chuyên gia cho rằng không thể đặt toàn bộ gánh nặng cung ứng vốn lên hệ thống ngân hàng. Khi quy mô tín dụng đã ở mức rất cao so với GDP, nếu nền kinh tế tiếp tục tăng tín dụng 15-16% mỗi năm để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao thì áp lực lên hệ thống ngân hàng ngày càng lớn.
Bởi vậy, bên cạnh tín dụng, phải phát triển mạnh hơn thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư, hợp tác công - tư và những công cụ tài chính mới.
Trong tài liệu trình bày tại HUBA, TS. Cấn Văn Lực cũng đề xuất doanh nghiệp giảm phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng, tăng huy động vốn qua cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư và PPP; đồng thời phải ưu tiên nguồn vốn cho những dự án có năng suất và khả năng lan tỏa lớn.
Điều này đặc biệt quan trọng khi lãi suất vẫn đang là một trong những áp lực lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp. Tài liệu nghiên cứu cũng chỉ ra doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như giá năng lượng, chi phí đầu vào và logistics cao, đơn hàng không ổn định, yêu cầu số hóa - xanh hóa ngày càng lớn, trong khi dư địa chính sách tiền tệ và thanh khoản ngân hàng thu hẹp.
Doanh nghiệp nhà ở xã hội: Có dự án nhưng lại khó vốn
Câu chuyện của Công ty Lê Thành cho thấy khá rõ nghịch lý này.
Ông Lê Hữu Nghĩa CTHĐQT- Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Xây dựng Lê Thành (Le Thanh Groupp) cho biết : sau một thời gian dài khó phát triển dự án mới, thời gian gần đây một số dự án đã được tháo gỡ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp triển khai các dự án có tổng giá trị hàng nghìn tỷ đồng. Nếu các dự án tiếp theo được triển khai thuận lợi, doanh nghiệp có thể phát triển hơn 5.000 căn nhà với tổng giá trị đầu tư trên 6.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay lại là nguồn vốn.
Đặc biệt với các dự án nhà ở xã hội cho thuê, doanh nghiệp cần vay vốn dài hạn 7-10 năm. Theo phản ánh của doanh nghiệp tại chương trình, mức lãi suất tiếp cận thực tế có thể từ khoảng 12,5%/năm trở lên, thậm chí có dự án dao động 12-14%.
Với mức lãi suất như vậy, doanh nghiệp cho rằng rất khó cân đối.
Bởi nếu toàn bộ chi phí tài chính được tính vào dự án nhà ở xã hội thì cuối cùng giá thành nhà ở sẽ tăng và người phải chịu chi phí sau cùng vẫn là người dân.
![]() |
| Ông Lê Hữu Nghĩa CTHĐQT- Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Xây dựng Lê Thành (Le Thanh Group). Ảnh- Bích Liên |
Không chỉ vốn, các doanh nghiệp xây dựng còn đang chịu áp lực lớn từ giá nguyên vật liệu và nhân công. Theo ông Nghĩa so với thời điểm nhiều gói thầu được ký trước đây, một số loại vật tư đã tăng khoảng 30%, chi phí nhân công có thể tăng tới 50%, trong khi ngành xây dựng đang thiếu lao động.
Điều này giải thích vì sao có trường hợp nhà thầu từng rất muốn nhận dự án nhưng khi đến giai đoạn triển khai lại xin rút, bởi giá trúng thầu cũ không còn đủ bù chi phí hiện tại.
Muốn tăng trưởng hai con số phải tăng cả đầu tư và năng suất
Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam cần chuyển từ mô hình dựa nhiều vào vốn và lao động sang tăng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP.
![]() |
| Đối với cộng đồng doanh nghiệp, TS. Cấn Văn Lực đề xuất một loạt hướng hành động cụ thể. |
Muốn làm được điều này phải đồng thời thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đổi mới giáo dục - đào tạo; nâng hiệu quả thị trường; cải thiện hạ tầng và đặc biệt là chất lượng thể chế, thực thi.
Đối với TP.HCM, các động lực truyền thống vẫn phải được giữ vững: xuất khẩu hàng hóa, tăng xuất khẩu dịch vụ, thúc đẩy đầu tư công, đầu tư tư nhân và FDI, phát triển hạ tầng và kích cầu tiêu dùng.
Nhưng song song đó phải kích hoạt các động lực mới như chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi lao động; đẩy mạnh liên kết vùng và xử lý nhanh các dự án tồn đọng.
Đáng chú ý, nghiên cứu của BIDV ước tính nếu được khai thác tốt, những động lực tăng trưởng mới như khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, cải cách thể chế, liên kết vùng, chuyển đổi xanh và xử lý các dự án tồn đọng có thể tạo thêm 2,8-3,7 điểm phần trăm tăng trưởng GDP mỗi năm.
Đây chính là dư địa quan trọng nếu Việt Nam cũng như TP.HCM muốn tiến tới tốc độ tăng trưởng cao mà không phải dựa quá nhiều vào việc bơm thêm vốn.
Từ “kinh doanh nhiều hơn” sang “tạo giá trị cao hơn”
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, TS. Cấn Văn Lực đề xuất một loạt hướng hành động cụ thể.
Trước hết là tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất nhưng phải chuyển mạnh vào những ngành có giá trị gia tăng cao như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, fintech, logistics, thương mại quốc tế, công nghiệp công nghệ cao, y tế, giáo dục chất lượng cao, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Doanh nghiệp cũng cần tăng năng suất bằng chuyển đổi số, AI và dữ liệu; đầu tư nhiều hơn vào vùng nguyên liệu, chế biến sâu, nghiên cứu - phát triển và đổi mới sáng tạo.
Các doanh nghiệp lớn được khuyến khích xây dựng các trung tâm R&D, liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu và startup. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tham gia bằng đặt hàng công nghệ hoặc sử dụng chung các nền tảng số và nền tảng nghiên cứu.
Một hướng đi khác là đưa doanh nghiệp Việt Nam tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ chỗ chủ yếu bán hàng hóa hoặc gia công sang cung ứng linh kiện, thiết kế, phần mềm, dịch vụ kỹ thuật, logistics và những dịch vụ có giá trị cao.
Thông điệp được đặt ra rất rõ: doanh nghiệp phải chuyển từ “kinh doanh nhiều hơn” sang “tạo giá trị cao hơn”.
Chính quyền phải tạo điều kiện để doanh nghiệp dám đầu tư
Tăng trưởng hai con số, vì vậy, không chỉ là nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp lớn cần tiên phong, kết nối và xây dựng hệ sinh thái; doanh nghiệp nhỏ và vừa phải nâng cấp năng lực quản trị, công nghệ và thị trường. Nhưng chính quyền cũng phải tạo ra môi trường để doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn.
![]() |
| Theo các chuyên gia, doanh nghiệp lớn cần tiên phong, kết nối và xây dựng hệ sinh thái; doanh nghiệp nhỏ và vừa phải nâng cấp năng lực quản trị, công nghệ và thị trường. Nhưng chính quyền cũng phải tạo ra môi trường để doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn. Ảnh- Bích Liên |
Năm điều kiện được đặt ra gồm: thể chế thuận lợi và nhất quán hơn; mặt bằng và hạ tầng tốt hơn; tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ dễ hơn; nhân lực chất lượng cao hơn; thủ tục đầu tư nhanh, gọn và thực thi hiệu quả hơn.
TP.HCM cũng được đề xuất phát huy các cực tăng trưởng mới sau khi mở rộng không gian phát triển, tăng liên kết Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Tây Nguyên; sớm khai thác Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, mô hình TOD, logistics - cảng biển, kinh tế số, chuyển đổi xanh và những dự án hạ tầng quy mô lớn.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số vì thế không đơn giản là tăng thêm tín dụng hay tăng số lượng dự án. Vấn đề quyết định là mỗi đồng vốn phải tạo ra nhiều giá trị hơn, mỗi doanh nghiệp phải có năng suất cao hơn và mỗi dự án được tháo gỡ phải nhanh chóng chuyển thành năng lực sản xuất mới của nền kinh tế.
Khi dòng vốn xã hội được khơi thông, thị trường vốn trở thành một trụ cột thực sự bên cạnh ngân hàng, dự án được triển khai nhanh hơn và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực giá trị gia tăng cao, mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP.HCM mới có nền tảng để trở thành tăng trưởng thực chất và bền vững.