Áp lực môi trường ngày càng lớn tại siêu đô thị hơn 10 triệu dân
Trong guồng quay tăng trưởng mạnh mẽ của một đô thị đầu tàu kinh tế cả nước, TP. Hồ Chí Minh đang đối mặt với áp lực môi trường ngày càng nghiêm trọng. Đô thị hóa nhanh, dân số cơ học tăng mạnh, mật độ phương tiện giao thông dày đặc cùng tác động của biến đổi khí hậu đang đẩy thành phố vào một “bài toán kép”, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế, vừa phải kiểm soát ô nhiễm để bảo đảm chất lượng sống cho người dân.
Không còn là những cảnh báo xa vời, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và áp lực chất thải rắn đang hiện hữu rõ nét trong nhịp sống hàng ngày. Những lớp sương mù dày đặc vào sáng sớm tại khu vực trung tâm thực chất là bụi mịn PM2.5 tích tụ ở mức cao. Các tuyến giao thông thường xuyên ùn tắc kéo theo lượng khí thải khổng lồ. Hệ thống kênh rạch nội đô nhiều nơi tiếp tục chịu áp lực từ nước thải sinh hoạt và công nghiệp.
![]() |
| Hệ thống kênh rạch nội đô nhiều nơi tiếp tục chịu áp lực từ nước thải sinh hoạt và công nghiệp. |
Theo số liệu của ngành môi trường thành phố, mỗi ngày TP. Hồ Chí Minh phát sinh hơn 1,6 triệu m3 nước thải và trên 14.000 tấn chất thải rắn đô thị. Trong khi đó, toàn địa bàn hiện có 63 khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao; 14 cụm công nghiệp cùng nhiều làng nghề đang hoạt động. Điều này tạo sức ép rất lớn lên hạ tầng xử lý môi trường vốn nhiều năm chưa theo kịp tốc độ phát triển đô thị.
Đáng lo ngại hơn, chất lượng không khí của thành phố đang liên tục ở mức báo động. Dữ liệu từ IQAir cho thấy nồng độ PM2.5 trung bình tại TP.HCM cao gấp nhiều lần khuyến nghị an toàn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Có thời điểm chỉ số AQI lên gần ngưỡng ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ.
Giao thông trở thành “điểm nghẽn” lớn nhất của ô nhiễm không khí
Các chuyên gia môi trường nhận định, giao thông hiện là nguồn phát thải lớn nhất tại TP. Hồ Chí Minh. Thành phố hiện có gần 13 triệu phương tiện cá nhân, trong đó xe máy chiếm áp đảo. Đây là nguyên nhân chính tạo ra bụi mịn, khí CO và nhiều loại khí độc khác.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, giao thông đóng góp khoảng 63% tổng lượng phát thải PM2.5. Riêng xe máy tạo ra tới 91% lượng phát thải CO và hơn 70% bụi mịn PM2.5. Tại các trục đường thường xuyên ùn tắc, nồng độ bụi mịn có thời điểm vượt chuẩn cho phép từ 1,5-2 lần.
![]() |
| Các tuyến giao thông thường xuyên ùn tắc kéo theo lượng khí thải khổng lồ. |
Không chỉ giao thông, hoạt động xây dựng và công nghiệp cũng góp phần khiến bức tranh môi trường thêm áp lực. Việc thành phố đồng loạt triển khai các dự án hạ tầng lớn như metro, đường vành đai, cao tốc, khu đô thị mới… kéo theo lượng bụi xây dựng rất lớn. Trong khi đó, hàng nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp tiếp tục phát sinh khí thải nếu không được kiểm soát chặt.
Một thách thức khác là tính liên kết vùng. TP. Hồ Chí Minh chịu tác động không nhỏ từ hoạt động đốt rác, đốt phụ phẩm nông nghiệp và phát thải công nghiệp từ các địa phương lân cận. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp quản lý chất lượng không khí liên vùng hiện vẫn còn thiếu đồng bộ.
Thành phố tăng tốc đầu tư hạ tầng môi trường quy mô lớn
Trước sức ép ngày càng gia tăng, Thành phố đang chuyển mạnh sang hướng phát triển xanh với hàng loạt dự án hạ tầng môi trường quy mô lớn trong giai đoạn 2026-2030.
UBND TP. Hồ Chí Minh đã công bố danh mục 7 dự án môi trường trọng điểm nhằm nâng cao năng lực thu gom và xử lý nước thải đô thị, giảm ô nhiễm nguồn nước và cải thiện chất lượng sống.
Trong đó, nhiều dự án có quy mô rất lớn như: Hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải Tham Lương – Bến Cát giai đoạn 2 với công suất quy hoạch khoảng 230.000 m3/ngày; Nhà máy xử lý nước thải Tây Bắc Thành phố quy hoạch công suất tới 380.000 m3/ngày; Nhà máy xử lý nước thải Nam Sài Gòn phục vụ khu vực Nhà Bè và quận 7 cũ với công suất giai đoạn đầu 132.000 m3/ngày; Hệ thống thu gom nước thải Bình Cơ kết nối với các khu đô thị và khu công nghiệp mới; Các dự án cấp nước, xử lý nước sạch phục vụ khu vực phát triển du lịch và đô thị mới.
Song song đó, Thành phố cũng đang tái cấu trúc toàn bộ hệ thống xử lý chất thải rắn, đặt mục tiêu giảm dần chôn lấp truyền thống, chuyển sang mô hình xử lý hiện đại theo hướng tái chế và kinh tế tuần hoàn.
Mô hình trạm thu hồi và phân loại vật liệu tái chế (MRF) đầu tiên đã được triển khai thí điểm tại phường Tân Mỹ. Đây được xem là bước đi mới trong quản lý rác bằng nền tảng số, giúp kiểm soát toàn bộ quy trình phân loại – thu gom – tái chế chất thải.
Đối với mạng lưới trung chuyển rác, TP. Hồ Chí Minh đang rà soát lại toàn bộ khoảng 750 điểm tập kết và 43 trạm trung chuyển rác sinh hoạt. Nhiều trạm cũ nằm xen cài trong khu dân cư sẽ được thay thế bằng mô hình trung chuyển kín, hiện đại nhằm giảm ô nhiễm mùi và nước rỉ rác.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh đang rà soát lại toàn bộ khoảng 750 điểm tập kết và 43 trạm trung chuyển rác sinh hoạt. |
Chuyển đổi xanh và giao thông sạch trở thành chiến lược trọng tâm
Điểm đáng chú ý trong giai đoạn mới là TP. Hồ Chí Minh không còn tiếp cận vấn đề môi trường theo hướng xử lý hậu quả, mà chuyển sang mô hình quản trị phát thải chủ động.
Theo kế hoạch kiểm soát ô nhiễm không khí giai đoạn 2026-2030, thành phố đặt mục tiêu quản lý và giám sát 100% nguồn phát sinh khí thải lớn. Đồng thời, 95% người dân sẽ được tiếp cận dữ liệu chất lượng không khí thông qua các nền tảng số.
Một trong những giải pháp đột phá là thúc đẩy chuyển đổi giao thông xanh. Thành phố đang xây dựng lộ trình chuyển đổi xe xăng sang xe điện đối với xe buýt, xe công nghệ, giao hàng và phương tiện công vụ.
Mục tiêu đến năm 2030 là 100% xe buýt sử dụng điện hoặc năng lượng xanh; Xe máy công nghệ và giao hàng từng bước chuyển sang xe điện; Đẩy mạnh phát triển metro, xe buýt công cộng và giao thông thủy nội đô; Hình thành các khu vực phát thải thấp tại trung tâm thành phố.
Các chuyên gia cho rằng, đây là bước đi then chốt bởi nếu không giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân chạy xăng dầu, TP. Hồ Chí Minh khó có thể cải thiện căn cơ chất lượng không khí.
Cùng với giao thông sạch, thành phố cũng định hướng phát triển đô thị xanh thông qua mở rộng công viên, tăng diện tích cây xanh, cải thiện hệ sinh thái sông Sài Gòn và kênh rạch, thúc đẩy công trình xanh và tiết kiệm năng lượng.
![]() |
| Thành phố định hướng phát triển đô thị xanh thông qua mở rộng công viên, tăng diện tích cây xanh... |
Từ “chống ô nhiễm” sang xây dựng năng lực cạnh tranh đô thị xanh
Điểm đáng chú ý trong chiến lược môi trường mới của TP. Hồ Chí Minh là cách tiếp cận đa ngành và dài hạn. Ô nhiễm không còn được xem là vấn đề riêng của ngành môi trường, mà trở thành tiêu chí phát triển kinh tế - xã hội.
Các chuyên gia nhận định, nếu giải quyết hiệu quả bài toán môi trường, Thành phố không chỉ cải thiện chất lượng sống mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn đầu tư xanh và các ngành công nghệ cao trong tương lai.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu phải trở thành hình mẫu về chuyển đổi xanh của cả nước. Điều này đồng nghĩa với việc thành phố phải đồng thời thực hiện nhiều cuộc chuyển đổi lớn, từ giao thông, công nghiệp, năng lượng cho đến mô hình tiêu dùng và quản lý đô thị.
Áp lực là rất lớn, nhưng quyết tâm cũng đang ngày càng rõ ràng hơn. Hàng loạt dự án hạ tầng môi trường, chính sách kiểm soát phát thải và chiến lược giao thông sạch cho thấy Thành phố đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc phát triển theo hướng xanh và bền vững hơn.
Trong cuộc đua xây dựng đô thị hiện đại, bài toán môi trường giờ đây không chỉ là yêu cầu sống còn, mà còn là thước đo cho chất lượng tăng trưởng của thành phố lớn nhất cả nước.