Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 ở TP. Hồ Chí Minh, các yêu cầu về xanh hóa, minh bạch dữ liệu và kết nối logistics được đặt ra trong bối cảnh thương mại hàng hóa Việt Nam tiếp tục mở rộng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài toán cấp thiết là giảm chi phí tuân thủ, nâng hiệu quả vận hành và giữ cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.
![]() |
| Hạ tầng cảng biển và kết nối vận tải là mắt xích quan trọng để giảm chi phí logistics, nâng sức cạnh tranh hàng hóa Việt Nam. Ảnh BTC |
Logistics xanh đang trở thành điều kiện quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tại phiên thảo luận sáng 27/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh, TS. Bùi Bá Nghiêm, chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), nhấn mạnh yêu cầu gắn phát triển logistics với công nghệ, dữ liệu và năng lực cạnh tranh.
Quy mô thương mại ngày càng lớn khiến bài toán vận chuyển, lưu kho và giao nhận trở nên cấp thiết. Theo số liệu được nêu tại diễn đàn, tổng kim ngạch thương mại hàng hóa Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 930 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, con số này đạt 888,03 tỷ USD, tăng hơn 16% về khối lượng hàng hóa vận chuyển theo tài liệu tham luận.
Việt Nam có lợi thế về vị trí địa kinh tế, đường bờ biển dài hơn 3.260 km, hệ thống cảng biển và mạng lưới hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, lợi thế đó chưa chuyển hóa đầy đủ thành năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước.
Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, chi phí logistics Việt Nam tương đương 16–18% GDP, trong khi mức trung bình thế giới khoảng 10–12%. Khoảng cách này tác động trực tiếp đến giá thành hàng hóa, nhất là với doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp và quy mô vận chuyển nhỏ.
Vận tải đường bộ hiện chiếm khoảng 75,7% tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển theo tài liệu tại diễn đàn. Sự phụ thuộc lớn vào một phương thức, cùng kết nối liên vùng chưa đồng bộ, làm tăng áp lực lên chi phí nhiên liệu, thời gian giao nhận và lưu kho.
Vấn đề không nằm riêng ở giá cước. Một chuyến xe chạy rỗng chiều về, hàng hóa phải chờ tại cảng hoặc dữ liệu giao nhận không được chia sẻ cũng làm phát sinh chi phí. Nếu những khâu này không được cải thiện, doanh nghiệp khó cạnh tranh về giá dù thị trường xuất khẩu còn nhiều cơ hội.
![]() |
| Liên kết cảng biển, đường bộ, đường sắt và đường thủy giúp doanh nghiệp tối ưu vận chuyển, hạn chế thời gian chờ. Ảnh minh họa |
Ngày 9/10/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược xác định các nhiệm vụ về thể chế, hạ tầng, liên kết vùng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đào tạo nhân lực. Đến năm 2035, Việt Nam đặt mục tiêu giảm chi phí logistics xuống mức tương đương 12–15% GDP. Ngành logistics phấn đấu tăng trưởng bình quân 12–15% mỗi năm, đồng thời nâng tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng giải pháp chuyển đổi số lên 80%.
Những mục tiêu này có ý nghĩa trực tiếp với cộng đồng doanh nghiệp. Chi phí vận chuyển giảm sẽ giúp hàng Việt cải thiện khả năng cạnh tranh. Dữ liệu minh bạch hơn cũng hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát tồn kho, dự báo nhu cầu và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường hạn chế về vốn, nhân lực công nghệ và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững. Nếu phải tự đầu tư toàn bộ hệ thống số, chứng nhận và báo cáo phát thải, chi phí tuân thủ có thể trở thành rào cản mới.
Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp cần đi vào những nhu cầu cụ thể: dùng chung dữ liệu logistics, đơn giản hóa chứng từ, đào tạo nhân lực và tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn phù hợp. Các doanh nghiệp trong chuỗi cũng cần thống nhất dữ liệu tối thiểu về hàng hóa, lịch vận chuyển, kho bãi và thời gian giao nhận.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và Internet vạn vật (IoT) có thể giúp tối ưu hành trình, quản lý kho và giảm thời gian chờ. Nhưng công nghệ không tự động tạo ra hiệu quả nếu các khâu vận tải, sản xuất và phân phối vẫn vận hành rời rạc. Cùng với đường bộ, phát triển đường sắt, đường thủy nội địa và kết nối cảng biển cần được xem xét trong một mạng lưới thống nhất. Các cửa ngõ nước sâu như Cái Mép–Thị Vải có thể phát huy vai trò lớn hơn nếu gắn với hệ sinh thái kho bãi, sản xuất, phân phối và dịch vụ logistics giá trị gia tăng.
Điều doanh nghiệp cần không phải những khẩu hiệu xanh chung chung, mà là kết quả có thể kiểm chứng: chi phí giảm bao nhiêu, thời gian giao hàng rút ngắn thế nào và lượng phát thải được cắt giảm ra sao. Các tiêu chuẩn phải rõ ràng, dữ liệu có khả năng kết nối và cơ chế hỗ trợ đủ sức giúp doanh nghiệp nhỏ tham gia.
Logistics xanh chỉ thực sự trở thành lợi thế khi chi phí giảm đi cùng chất lượng dịch vụ tăng lên. Với doanh nghiệp Việt Nam, thước đo cuối cùng không phải số công nghệ được ứng dụng, mà là khả năng giao hàng đúng hạn, giữ giá cạnh tranh và đứng vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
