Ngày 14/10, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hồ Chí Minh (HCM SME) tổ chức hội thảo “Thuế giá trị gia tăng gỗ nguyên liệu và gỗ sơ chế - Vướng mắc thực tiễn và giải pháp tháo gỡ, hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới tăng trưởng 2 con số”.
Tại hội thảo, các doanh nghiệp phản ánh nhiều khó khăn trong việc xác định nguồn gốc gỗ nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT). Đáng chú ý, một số trường hợp đã nộp thuế tại khâu nhập khẩu nhưng gặp vướng mắc khi thực hiện thủ tục khấu trừ, hoàn thuế, khiến nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh bị tồn đọng.
Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch HAWA, cho biết ngành gỗ và nội thất đang nỗ lực mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Để hiện thực hóa mục tiêu này, doanh nghiệp cần nguồn nguyên liệu ổn định, dòng vốn lưu động thông suốt và hướng dẫn chính sách rõ ràng, nhất quán.
![]() |
| Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch HAWA |
Tuy nhiên, những vướng mắc về hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế thông thường, cách áp dụng thuế và xử lý các khoản thuế đã nộp đang ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, giao dịch mua bán và giải quyết hồ sơ hoàn thuế. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí phát sinh cùng tình trạng vốn bị giữ lại càng làm gia tăng áp lực tài chính.
Từ thực tế hoạt động, ông Nguyễn Liêm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lâm Việt, phản ánh tình trạng áp dụng chính sách thuế chưa thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Theo ông, có trường hợp doanh nghiệp làm thủ tục nhập khẩu gỗ tại Quy Nhơn không phải nộp thuế GTGT, trong khi hồ sơ được doanh nghiệp cho là tương tự tại Cát Lái lại phải nộp thuế.
Sự khác biệt trong cách áp dụng khiến doanh nghiệp khó chủ động xác định nghĩa vụ thuế, tính toán chi phí và xây dựng kế hoạch nhập khẩu nguyên liệu.
Một vướng mắc khác là có trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế GTGT 8% tại khâu nhập khẩu, nhưng khi thực hiện thủ tục hoàn thuế, cơ quan Thuế xác định hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế. Doanh nghiệp vì vậy chưa rõ khoản tiền đã nộp sẽ được xử lý theo cơ chế nào, cơ quan nào tiếp nhận và cần thực hiện thủ tục gì.
Trong thời gian chờ giải quyết, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán tiền mua nguyên liệu, duy trì sản xuất và tiếp tục nhập khẩu các lô hàng mới. Nguồn vốn bị tồn đọng kéo dài có thể làm giảm khả năng xoay vòng vốn lưu động, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh vấn đề thuế, việc thiếu hướng dẫn cụ thể về chứng từ chứng minh nguồn gốc gỗ rừng trồng cũng khiến một số lô hàng gặp khó khăn khi thông quan.
Theo ông Nguyễn Liêm, đối với gỗ nhập khẩu từ Costa Rica, Panama và một số quốc gia khác, doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc xác định cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận cũng như thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự. Dù đã cung cấp chứng nhận rừng, giấy xác nhận nguồn gốc và các tài liệu liên quan, một số trường hợp vẫn phải bổ sung hồ sơ, giải trình nhiều lần.
Quá trình xử lý kéo dài khiến nguyên liệu chậm được đưa vào nhà máy, phát sinh chi phí lưu container, lưu bãi. Có doanh nghiệp phải điều chỉnh khai báo, nộp thuế để giải phóng hàng và phát sinh thêm các khoản xử phạt liên quan.
Trường hợp Công ty CP Lâm Việt cũng đã được Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đề cập trong văn bản kiến nghị gửi Bộ Tài chính. Theo thông tin được nêu, ngày 15/8/2026, doanh nghiệp mở 3 tờ khai nhập khẩu theo diện không chịu thuế nhưng chưa được thông quan do hồ sơ chứng minh gỗ rừng trồng chưa được chấp nhận. Để giải phóng hàng, doanh nghiệp phải điều chỉnh khai báo, nộp thuế và phát sinh xử phạt.
Từ thực tế này, ông Nguyễn Liêm kiến nghị cơ quan quản lý quy định rõ bộ chứng từ cần thiết, thẩm quyền xác nhận và phương thức kiểm tra nguồn gốc gỗ nhập khẩu. Ông cũng đề xuất xem xét không áp dụng hợp pháp hóa lãnh sự như điều kiện bắt buộc chung, mà nghiên cứu chấp nhận phương thức xác minh hoặc chứng từ thay thế phù hợp.
Theo doanh nghiệp, việc làm rõ yêu cầu hồ sơ không chỉ giúp rút ngắn thời gian thông quan mà còn hạn chế phát sinh chi phí và giảm rủi ro trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
![]() |
| Hội thảo “Thuế giá trị gia tăng gỗ nguyên liệu và gỗ sơ chế - Vướng mắc thực tiễn và giải pháp tháo gỡ, hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới tăng trưởng 2 con số” |
Theo ông Tô Ngọc Ngời, Phó Chủ tịch HAWA, Trưởng ban Chính sách và Đối ngoại, qua tổng hợp phản ánh của hội viên, khó khăn hiện nay tập trung vào 5 nhóm vấn đề: hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu; phân loại gỗ sơ chế thông thường; xử lý số thuế đã nộp tại khâu nhập khẩu; hóa đơn đầu vào và hồ sơ hoàn thuế; chính sách thuế đối với phụ phẩm, viên nén gỗ và nguyên liệu sử dụng chung.
Trong đó, doanh nghiệp còn gặp cách hiểu khác nhau khi xác định gỗ xẻ đã sấy, ngâm tẩm bảo quản nhưng chưa bào trơn, cũng như gỗ bóc, gỗ lạng dùng làm nguyên liệu sản xuất nội thất thuộc nhóm hàng hóa nào để áp dụng chính sách thuế.
Doanh nghiệp cũng phản ánh tình trạng hóa đơn mua gỗ thể hiện cách tính thuế khác nhau: có hóa đơn ghi thuế suất 8%, trong khi một số hóa đơn thể hiện hàng hóa thuộc diện không phải kê khai, tính nộp thuế. Việc phân biệt hàng hóa không chịu thuế với trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế là vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể, bởi cách xác định có thể ảnh hưởng đến việc lập hóa đơn, kê khai và xử lý thuế của các bên liên quan.
Ông Nguyễn Liêm cho biết, có trường hợp nhà nhập khẩu đã nộp thuế GTGT tại cơ quan Hải quan nhưng khi bán nguyên liệu cho doanh nghiệp sản xuất, bên mua không chấp nhận hóa đơn có thuế. Một số giao dịch đã hoàn tất nhưng sau đó bên mua yêu cầu điều chỉnh hóa đơn và hoàn lại khoản thuế đã thanh toán.
Tình trạng này khiến doanh nghiệp phải xử lý lại hóa đơn, đối chiếu công nợ, thậm chí đối mặt nguy cơ tranh chấp giữa bên bán và bên mua, ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng nguyên liệu.
Ngoài ra, một số hóa đơn bị loại hoặc tạm thời chưa được đưa vào hồ sơ hoàn thuế dù giao dịch đã hoàn tất. Việc điều chỉnh đòi hỏi sự phối hợp giữa bên bán và bên mua; nếu nhà cung cấp chưa phối hợp, doanh nghiệp mua hàng cũng gặp khó trong việc xác định phương án xử lý để bảo đảm quyền lợi về thuế.
Đối với phụ phẩm gỗ, doanh nghiệp đề nghị làm rõ cách áp dụng chính sách thuế với phụ phẩm được sử dụng làm nguyên liệu và sản phẩm sau chế biến, nhất là những trường hợp nguyên liệu tiếp tục qua các công đoạn nghiền, sấy, đóng bao hoặc ép viên. Việc phân bổ, khấu trừ và hoàn thuế đối với nguyên liệu sử dụng chung cho sản xuất hàng bán trong nước và hàng xuất khẩu cũng cần được hướng dẫn cụ thể.
Từ những vướng mắc thực tế, HAWA kiến nghị các cơ quan chuyên môn sớm hoàn thiện hướng dẫn về xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, đồng thời làm rõ phạm vi gỗ sơ chế thông thường để cơ quan Thuế và Hải quan có cơ sở áp dụng chính sách thống nhất.
Đối với các khoản thuế đã nộp, doanh nghiệp đề nghị Thuế TP. Hồ Chí Minh và Chi cục Hải quan khu vực II phối hợp rà soát từng hồ sơ, xác định cơ chế xử lý, cơ quan tiếp nhận, chứng từ cần bổ sung và tiến độ giải quyết. Những vấn đề vượt thẩm quyền cần được tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để có hướng dẫn chung.
Trước đó, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đã có văn bản kiến nghị Bộ Tài chính tháo gỡ khó khăn về hoàn thuế GTGT đối với doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu. Hiệp hội đề nghị hướng dẫn thống nhất việc điều chỉnh hóa đơn, xử lý số thuế đã nộp và xây dựng cơ chế chuyển tiếp đối với các giao dịch, lô hàng phát sinh trước khi có hướng dẫn đầy đủ về hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ rừng trồng và phân loại gỗ sơ chế.
Việc sớm làm rõ các quy định và thống nhất cách thực hiện được doanh nghiệp kỳ vọng sẽ giúp giảm thời gian xử lý hồ sơ, hạn chế chi phí phát sinh, khơi thông nguồn vốn đang bị tồn đọng và tạo điều kiện để ngành gỗ duy trì sản xuất, mở rộng thị trường.
