
Kim ngạch nhập khẩu gỗ (HS 44) của Đài Loan đạt khoảng 1,1~1,4 tỷ USD/ năm và kim ngạch nhập khẩu sản phẩm gỗ (HS9403) đạt khoảng 280~380 triệu USD/năm. Chính sách quản lý nhập khẩu nhóm sản phẩm này tương đối thuận lợi, nhất là thuế quan nhập khẩu về cơ bản là 0% và về cơ bản không phải cạnh tranh với doanh nghiệp sản xuất tại nội địa.
Cụ thể, đa số mặt hàng gỗ (HS 44) với các nhóm từ HS 4401 đến HS 4409 có thuế suất MFN nhập khẩu từ các nước thành viên WTO bằng 0%. Một vài sản phẩm có thuế suất MFN là 8,5% như HS 4408.10.22.00.2; HS 4408.31.22.00.7; HS 4408.39.22.00.9; HS 4408.90.22.00.5; hay thuế suất MFN 12,5% như HS 4412.10.12.00.8; HS 4412.10.92.00.1 vv... Các sản phẩm gỗ (HS94) cũng có thuế suất MFN nhập khẩu từ các nước thành viên WTO bằng 0%. Một số sản phẩm thuế suất nhập khẩu từ 5% - 10% tùy loại. Các nhóm sản phẩm HS9403.30 – 40 – 50 – 60 đều có mức thuế quan nhập khẩu ở cột MFN là 0%.
Các doanh nghiệp Đài Loan trong nhóm ngành gỗ và sản phẩm gỗ (nhất là sản phẩm đồ nội thất) đã dịch chuyển sang Việt Nam đầu tư từ khá sớm và hiện ngành gỗ Việt Nam xuất khẩu sang Đài Loan nói chung, xuất khẩu ra thế giới nói riêng có đóng góp không nhỏ từ các doanh nghiệp FDI Đài Loan. Tuy vậy, nhóm sản phẩm trong lĩnh vực này nhất là ván gỗ ép hay đồ nội thất hiện đang phải chịu cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc, (kiểu dáng, mẫu mã cũng như giá cả).
Doanh nhân Đài Loan có nhu cầu lớn về nhiều nhóm gỗ thịt, tuy vậy nguồn cung mặt hàng này hiện xuất khẩu từ Việt Nam khá hạn chế và thủ tục yêu cầu phức tạp về nguồn gốc xuất xứ và bảo vệ rừng. Thời tiết Đài Loan khá giống Việt Nam nên nhóm sản phẩm gỗ dăm, viên gỗ vv... không có nhu cầu lớn như địa bàn các đối tác Đông Á khác như Hàn Quốc, Nhật Bản (thời tiết không quá lạnh và trong khi quy mô các trang trại chăn nuôi không lớn).
Mai Chi