Dù sở hữu tiềm năng lớn với hàng trăm nghìn hecta canh tác, ngành hàng lúa gạo tại Cà Mau vẫn loay hoay trong bài toán liên kết sản xuất – tiêu thụ. Tại hội thảo kết nối sản xuất, tiêu thụ ngành hàng lúa gạo vừa diễn ra mới đây tại Cà Mau, những “điểm nghẽn” đã được nhìn nhận từ nhiều góc độ: quản lý nhà nước, chuyên gia chính sách và chính các hợp tác xã – chủ thể trực tiếp của chuỗi giá trị.
“Điểm yếu chí mạng” là liên kết lỏng lẻo
Nhấn mạnh điều này, ở góc độ từ phía cơ quan quản lý nhà nước ông Lê Văn Sử – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau thẳng thắn thừa nhận, dù diện tích lúa toàn tỉnh đạt hơn 185.000 ha, sản lượng khoảng 1,8 triệu tấn/năm, nhưng tỷ lệ liên kết tiêu thụ chỉ khoảng 16,7%.
![]() |
| Ông Lê Văn Sử – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau (Ảnh: Uyển Nhi) |
Theo ông Sử, đây là “điểm yếu chí mạng” khiến giá trị hạt gạo chưa được nâng cao. Tình trạng hợp đồng thiếu ràng buộc pháp lý, liên kết lỏng lẻo, thậm chí “bẻ kèo” khi giá biến động vẫn diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, hạ tầng logistics, cơ giới hóa và tổ chức sản xuất chưa đồng bộ, làm gia tăng chi phí và rủi ro.
Dù tỉnh đã triển khai các mô hình lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ, lúa giảm phát thải với hiệu quả bước đầu tích cực, nhưng quy mô còn nhỏ. Trong tổng số hơn 54.000 ha đăng ký tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao đến năm 2030, hiện mới triển khai khoảng 1.380 ha.
“Cần những giải pháp thực chất để tháo gỡ các điểm nghẽn về hợp đồng, tín dụng, thị trường và vai trò doanh nghiệp đầu tàu, năng lực của các HTX; thị trường tín chỉ carbon… để tìm ra giải pháp thật sự hiệu quả, thiết thực để nâng cao giá trị hạt gạo, xây dựng thương hiệu gạo không chỉ của tỉnh Cà Mau mà còn của các tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung”, ông Lê Văn Sử nhấn mạnh.
Chính sách đúng nhưng “tắc” ở khâu thực thi
Ở góc độ chính sách, TS. Trần Minh Hải – Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn cho rằng, nghịch lý “được mùa, rớt giá” của nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa được giải quyết triệt để do sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết và không bám sát tín hiệu thị trường.
Theo ông Hải, Nghị định 98/2018/NĐ-CP về liên kết sản xuất là chủ trương đúng, nhưng thực tế triển khai tại Cà Mau còn nhiều hạn chế. Thủ tục rườm rà, thời gian thẩm định kéo dài, cùng với năng lực hạn chế của hợp tác xã khiến nhiều dự án không thể triển khai.
![]() |
| TS. Trần Minh Hải – Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn đang phân tích chính sách tại hội thảo. (Ảnh: Uyển Nhi) |
Đáng chú ý, ông chỉ ra một nghịch lý: “Nhiều chuỗi liên kết thực tế đang tồn tại, nhưng lại nằm ngoài chính sách vì không đủ điều kiện thủ tục. Điều này cho thấy chính sách chưa theo kịp thực tiễn”.
Bên cạnh đó, sau sáp nhập, tỉnh chưa kịp ban hành nghị quyết mới thay thế các chính sách cũ, tạo ra khoảng trống pháp lý. Các quy định về hỗ trợ đất lúa và chương trình mục tiêu quốc gia cũng chưa được cụ thể hóa, khiến nguồn lực chưa thể giải ngân.
Một điểm nghẽn khác là thiếu định mức kinh tế – kỹ thuật cho các ngành hàng đặc thù như bồn bồn, ba khía, tôm sinh thái…, khiến việc xây dựng dự án liên kết không có cơ sở pháp lý.
“Muốn làm nhưng không đủ lực”
Ở góc nhìn thực tiễn, HTX Nông nghiệp Tổng hợp Ba Đình phản ánh rõ những khó khăn “từ dưới lên”. Theo đại diện HTX, dù người dân ngày càng sẵn sàng tiếp cận khoa học – công nghệ, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm sạch, có truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, nhưng chi phí đầu tư cho công nghệ và chuyển đổi số vẫn là rào cản lớn.
“HTX chủ yếu mới dừng ở liên kết dịch vụ đầu vào cho thành viên, còn liên kết tiêu thụ vẫn chưa ổn định, phụ thuộc nhiều vào thị trường”, đại diện HTX cho biết.
Chuyển đổi số được xem là xu hướng tất yếu lại đang gặp khó ở chính khâu triển khai. Phần lớn thành viên là nông dân, khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế, trong khi các phần mềm chưa đủ đơn giản để áp dụng rộng rãi. Việc số hóa cũng đòi hỏi thực hiện đồng bộ toàn chuỗi, từ sản xuất đến tiêu thụ, điều mà HTX hiện chưa đủ nguồn lực.
![]() |
| Mô hình trồng lúa phát thải thấp. (Ảnh: Uyển Nhi) |
Ngoài ra, năng lực quản trị, xây dựng chiến lược, tiếp cận thị trường số của HTX còn yếu, khiến việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị gặp nhiều trở ngại.
Nút thắt cốt lõi: Đứt gãy chuỗi giá trị và khủng hoảng niềm tin thị trường
Nhìn từ ba chủ thể: Nhà nước, giới chuyên gia và hợp tác xã - có thể nhận diện một điểm hội tụ, chuỗi giá trị lúa gạo tại Cà Mau chưa hình thành được cấu trúc liên kết bền vững, đủ sức chống chịu trước biến động thị trường.
Ở cấp quản lý, chính sách dù có định hướng nhưng thiếu tính đồng bộ và chậm thích ứng sau quá trình sắp xếp, sáp nhập, dẫn đến khoảng trống trong triển khai. Từ góc độ chuyên gia, vấn đề không nằm ở việc thiếu cơ chế, mà ở khâu thiết kế và thực thi chưa “chạm đất”, chưa phản ánh đúng nhu cầu và điều kiện sản xuất thực tế. Trong khi đó, các hợp tác xã – mắt xích quan trọng của chuỗi lại đang đối mặt với “ba thiếu”: thiếu nguồn lực, thiếu năng lực quản trị và đặc biệt là thiếu niềm tin thị trường.
Đáng chú ý, hiện tượng “bẻ kèo” không đơn thuần là vi phạm hợp đồng, mà là biểu hiện của một thị trường thiếu ổn định và một nền sản xuất còn nặng tính nhỏ lẻ, ngắn hạn. Khi các cam kết liên kết dễ dàng bị phá vỡ, toàn bộ chuỗi giá trị trở nên mong manh, chi phí rủi ro tăng cao và động lực đầu tư dài hạn bị bào mòn.
Tái cấu trúc chuỗi: Cần một cách tiếp cận hệ thống
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, vấn đề không thể giải quyết bằng những biện pháp đơn lẻ, mà đòi hỏi một cách tiếp cận đồng bộ, xuyên suốt từ thể chế đến thị trường.
Trước hết, cần khẩn trương hoàn thiện khung chính sách sau sáp nhập theo hướng tích hợp, rõ ràng và dễ thực thi, tránh tình trạng “chồng chéo nhưng thiếu hiệu lực”. Song song đó, cải cách thủ tục hành chính phải đi vào thực chất, rút ngắn thời gian phê duyệt các dự án liên kết, giảm chi phí cơ hội cho doanh nghiệp và hợp tác xã.
Về nguồn lực, cần có cơ chế hỗ trợ tài chính linh hoạt hơn, đặc biệt là thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp – từ quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc đến kết nối thị trường. Tuy nhiên, hỗ trợ vốn sẽ không đủ nếu không song hành với nâng cao năng lực nội tại của hợp tác xã, từ quản trị, đàm phán hợp đồng đến phát triển thị trường.
Quan trọng hơn, cần thiết lập các cơ chế liên kết có tính ràng buộc và chia sẻ rủi ro rõ ràng giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp, nhằm hạn chế tình trạng “bẻ kèo” và tái lập niềm tin trong chuỗi. Khi niềm tin được thể chế hóa bằng các công cụ kinh tế và pháp lý, liên kết mới có thể bền vững.
Từ tiềm năng đến giá trị: Cần một “cú hích” thực chất
Định hướng phát triển lúa gạo chất lượng cao, hữu cơ, giảm phát thải là phù hợp với xu thế tiêu dùng toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững. Tuy nhiên, nếu các điểm nghẽn về thể chế, tổ chức sản xuất và thị trường không được xử lý triệt để, những mô hình này khó có thể vượt qua quy mô thí điểm.
Câu chuyện của Cà Mau, vì thế, không phải là cá biệt mà phản ánh một nghịch lý quen thuộc của nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long: tiềm năng lớn nhưng giá trị gia tăng thấp, do chuỗi giá trị chưa được tổ chức hiệu quả.
![]() |
| Lúa gạo tại Cà Mau vẫn loay hoay trong bài toán liên kết sản xuất – tiêu thụ. (Ảnh: Uyển Nhi) |
Bài toán không còn dừng lại ở lựa chọn cây trồng, mà nằm ở cách tái cấu trúc toàn bộ quá trình sản xuất – phân phối – tiêu thụ. Khi chuỗi giá trị chưa khép kín và thiếu các thiết chế đảm bảo, hạt gạo vẫn sẽ mắc kẹt trong vòng xoáy “được mùa, rớt giá” – một vòng luẩn quẩn không chỉ làm suy giảm thu nhập của nông dân, mà còn kìm hãm khả năng nâng cấp ngành hàng trong dài hạn.