Trong hoạt động khai khoáng, doanh nghiệp thường nhìn ngày hết hạn giấy phép như mốc cuối cùng của quyền khai thác. Nhưng Điều 17 Thông tư 54/2026/TT-BCT cho thấy một giới hạn khác có thể đến sớm hơn rất nhiều: trữ lượng, khối lượng được phép khai thác.
Hết trữ lượng được phép – còn thời hạn cũng phải dừng
Theo khoản 1 Điều 17, trong quá trình khai thác, trừ một số trường hợp được loại trừ như cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển, tổ chức, cá nhân phải dựa trên sản lượng đã khai thác và kiểm kê lượng còn lại để so sánh tổng trữ lượng thực tế với trữ lượng được phép khai thác trong giấy phép. Nếu phát hiện trữ lượng thực tế lớn hơn và muốn khai thác phần tăng thêm thì phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép.
Quy định đáng lưu ý nhất nằm ở khoản 2 Điều 17: nếu đã khai thác đủ trữ lượng, khối lượng được phép nhưng chưa hoàn thành thủ tục điều chỉnh thì phải dừng hoạt động khai thác, kể cả giấy phép vẫn còn thời hạn. Chỉ sau khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh để bổ sung trữ lượng, khối lượng, doanh nghiệp mới được tiếp tục khai thác phần tăng thêm theo khoản 3 Điều 17.
Đây là rủi ro kinh doanh đáng kể. Một mỏ còn giấy phép 12 tháng nhưng đã khai thác hết trữ lượng được cấp không đồng nghĩa doanh nghiệp còn 12 tháng sản xuất. Nếu không dự báo sớm, máy móc, nhân công, hợp đồng vận tải, hợp đồng đầu ra và dòng tiền đều có thể bị đặt vào trạng thái chờ.
![]() |
| Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng |
Bản đồ hiện trạng phải là công cụ cảnh báo, không phải hồ sơ làm cuối năm
Khoản 2 Điều 12 yêu cầu bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng được lập mỗi năm một lần, cập nhật đến hết ngày 31/12 và nộp trước ngày 01/02 năm sau.
Nhưng giá trị của bản đồ không chỉ nằm ở nghĩa vụ nộp. Theo khoản 3 Điều 12, từ các dữ liệu này doanh nghiệp phải xác định trữ lượng còn lại, so sánh biến động trữ lượng và chất lượng thực tế với trữ lượng được phép khai thác, đồng thời giải trình nguyên nhân sai khác nếu có.
Điều đó có nghĩa bản đồ hiện trạng về bản chất là một “bảng cân đối tài nguyên” của mỏ. Nếu chỉ thuê đơn vị đo đạc vào cuối năm để hoàn thành nghĩa vụ báo cáo, doanh nghiệp đã bỏ lỡ chức năng quan trọng nhất: dự báo thời điểm trữ lượng được cấp sắp chạm ngưỡng.
Cùng với đó, điểm a khoản 1 Điều 16 yêu cầu báo cáo định kỳ hoạt động khai thác, khai thác tận thu, thu hồi khoáng sản được lập và nộp trước ngày 15/02 của năm tiếp theo. Hệ thống mẫu tại Phụ lục còn yêu cầu thể hiện nhiều thông tin về sản lượng thực tế, phần trữ lượng còn lại, doanh thu và nghĩa vụ ngân sách.
Doanh nghiệp cần quản trị “đường băng pháp lý” trước khi mỏ chạm ngưỡng
Từ Điều 17 có thể rút ra một yêu cầu quản trị quan trọng: doanh nghiệp không nên chờ đến khi khai thác hết trữ lượng mới chuẩn bị hồ sơ điều chỉnh. Việc thiết lập các ngưỡng cảnh báo nội bộ ở những mốc sản lượng nhất định là cần thiết để lãnh đạo biết còn bao nhiêu “đường băng pháp lý”. Đây là khuyến nghị quản trị, không phải tỷ lệ bắt buộc do Thông tư quy định.
Ví dụ, khi sản lượng tích lũy tiến gần giới hạn giấy phép, doanh nghiệp cần đồng thời rà soát bản đồ hiện trạng, kết quả thăm dò bổ sung, khối lượng còn lại, nhu cầu thị trường và thời gian cần thiết để hoàn thiện thủ tục. Quyết định đầu tư thêm máy móc hoặc ký hợp đồng cung ứng dài hạn phải được đặt trong giới hạn đó.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, điểm yếu thường không nằm ở thiếu thông tin, mà ở thông tin bị chia cắt: quản đốc mỏ biết sản lượng; đơn vị đo đạc giữ bản đồ; kế toán giữ chứng từ; tư vấn giữ dữ liệu địa chất; lãnh đạo lại nhìn kế hoạch doanh thu. Khi các dữ liệu không được kết nối, doanh nghiệp có thể chỉ phát hiện “sắp hết quyền khai thác” vào thời điểm quá muộn.
Với hộ kinh doanh vận tải, bốc xúc hoặc cung ứng nguyên liệu đầu vào cho mỏ, rủi ro cũng không nhỏ. Một mỏ buộc phải dừng theo khoản 2 Điều 17 có thể làm gián đoạn khối lượng công việc và dòng tiền của các đối tác phụ trợ. Vì vậy, trước những hợp đồng phụ thuộc lớn vào một mỏ, cần quan tâm không chỉ thời hạn giấy phép mà cả khả năng duy trì sản lượng hợp pháp của bên khai thác.
Giấy phép còn hạn không đồng nghĩa quyền khai thác còn nguyên. Điều 17 đặt trữ lượng được phép khai thác thành một giới hạn pháp lý độc lập. Với doanh nghiệp, bài toán vì thế không chỉ là “mỏ còn bao nhiêu khoáng sản”, mà phải là “mỏ còn bao nhiêu khoáng sản được phép khai thác”. Khi khoảng cách giữa hai con số này không được quản trị, tài nguyên vẫn nằm dưới đất nhưng máy móc trên mặt đất có thể phải dừng. Và đó chính là lúc một vấn đề pháp lý chuyển thành rủi ro doanh thu, dòng tiền và thực hiện hợp đồng.