| Thông tư 54/2026/TT-BCT: Quản trị tài nguyên bằng dữ liệu và những rủi do doanh nghiệp không thể xem nhẹ |
Nếu Kỳ 1 là câu chuyện bước vào thị trường, thì sau khi được cấp phép, thách thức lớn hơn lại nằm ở việc chứng minh hoạt động khai thác bằng một chuỗi dữ liệu có khả năng đối chiếu. Thông tư 54/2026/TT-BCT đặt sổ sách, thiết bị đo đếm, bản đồ hiện trạng và dữ liệu điện tử vào cùng một hệ thống kiểm soát.
Có giấy phép nhưng chưa chắc đã được khai thác ngay
Theo điểm a khoản 1 Điều 8, chủ thể được cấp giấy phép phải đăng ký ngày bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ và ngày bắt đầu khai thác với cơ quan có thẩm quyền cấp phép ít nhất 15 ngày trước khi thực hiện. Nếu thay đổi thời gian, phải đăng ký lại bằng văn bản.
Song song với đó, điểm b khoản 1 Điều 8 đặt ra nghĩa vụ thông báo tới cơ quan địa phương có liên quan trước ít nhất 07 ngày làm việc, tùy theo thẩm quyền cấp giấy phép. Hồ sơ đăng ký còn phải có tài liệu về giao đất, cho thuê đất, giao khu vực biển hoặc khu vực khác để thực hiện dự án theo khoản 2 Điều 8.
Với doanh nghiệp, đây không phải chi tiết hành chính nhỏ. Kế hoạch huy động máy móc, lao động, vốn lưu động và hợp đồng đầu ra phải được đồng bộ với mốc pháp lý. Khởi động dây chuyền trước khi hoàn tất yêu cầu đăng ký, thông báo có thể biến một quyết định vận hành thành rủi ro tuân thủ.
![]() |
| Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu |
Một sản lượng nhưng phải khớp trên nhiều “sổ”
Khoản 1 Điều 10 yêu cầu lắp đặt thiết bị kiểm soát sản lượng theo quy định của Nghị định 193/2025/NĐ-CP. Quan trọng hơn, điểm a khoản 2 Điều 10 yêu cầu số liệu về khoáng sản nguyên khai, đất đá thải, khoáng sản đưa vào chế biến và sản phẩm sau chế biến phải được ghi chép, thống kê hằng ngày. Điểm b khoản 2 yêu cầu theo dõi hàm lượng, tỷ lệ khoáng sản có ích hằng tháng đối với các nhóm khoáng sản thuộc phạm vi áp dụng.
Phụ lục V ban hành kèm Thông tư chuẩn hóa riêng mẫu sổ theo ngày, mẫu sổ theo tháng và mẫu báo cáo định kỳ. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy kiểm soát sản lượng không còn có thể dựa trên một bảng tổng hợp được lập cuối năm.
Đáng chú ý, khoản 3 Điều 10 yêu cầu số liệu trong sổ sách, chứng từ, bản đồ, báo cáo định kỳ, báo cáo thống kê trữ lượng đã khai thác và báo cáo kiểm kê trữ lượng còn lại phải thống nhất. Nếu có chênh lệch quá 10% so với số liệu trong sổ theo dõi, doanh nghiệp phải giải trình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung giải trình.
Đây chính là nơi rủi ro kế toán gặp rủi ro địa chất. Một con số không khớp giữa cân điện tử, phiếu xuất kho, sản lượng chế biến, hóa đơn và bản đồ hiện trạng không còn chỉ là lỗi quản trị nội bộ. Nó có thể trở thành vấn đề phải giải trình với cơ quan quản lý.
Từ cân điện tử tới máy chủ quản lý nhà nước
Theo khoản 1 Điều 11, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, trừ khoáng sản nhóm IV, và khai thác tận thu phải xây dựng hệ thống quản lý, phân tích, tổng hợp dữ liệu và kết nối với thiết bị kiểm soát.
Điểm a khoản 4 Điều 11 quy định dữ liệu từ thiết bị cân, thiết bị đo đạc phải được truyền về máy chủ của cơ quan chuyên môn về địa chất và khoáng sản cấp tỉnh với tần suất không quá 01 ngày/lần. Nếu việc truyền dữ liệu bị gián đoạn, khi kết nối trở lại phải gửi đồng thời dữ liệu cũ và dữ liệu hiện tại. Điểm b khoản 4 yêu cầu dữ liệu phải chính xác, kịp thời và không bị sửa chữa, làm sai lệch trước hoặc trong khi truyền.
Điều 9 đồng thời yêu cầu lưu bản gốc hồ sơ tại trụ sở; nếu trụ sở không cùng địa chỉ mỏ thì phải lưu thêm một bộ bản sao tại văn phòng mỏ. Hành vi giả mạo, làm sai lệch hoặc chỉnh sửa hồ sơ đã lưu giữ bị đặt dưới trách nhiệm pháp lý trực tiếp.
Với doanh nghiệp nhỏ, giải pháp thực tế không nhất thiết phải bắt đầu bằng một hệ thống công nghệ đắt tiền. Điều cần thiết trước tiên là một quy trình đối soát thống nhất giữa bộ phận mỏ, cân, kho, chế biến, kế toán và pháp chế; xác định rõ ai được nhập, ai được sửa và ai chịu trách nhiệm chốt dữ liệu.
Đối với hộ kinh doanh vận tải hoặc cung ứng dịch vụ quanh mỏ, dữ liệu của bên khai thác ngày càng chặt chẽ cũng đồng nghĩa chứng từ giao nhận, khối lượng vận chuyển và hóa đơn của nhà cung cấp cần chính xác hơn. Sai lệch từ một mắt xích nhỏ có thể ảnh hưởng tới khả năng đối chiếu của cả chuỗi.
Điểm thay đổi đáng chú ý của Thông tư 54/2026/TT-BCT là đưa hoạt động khai khoáng tiến sâu vào mô hình quản trị bằng dữ liệu. Rủi ro lớn nhất với doanh nghiệp không còn là “quên một báo cáo”, mà là nhiều nguồn dữ liệu cùng nói về một tấn khoáng sản nhưng lại cho ra những con số khác nhau. Khi cơ quan quản lý có khả năng tiếp nhận và đối chiếu dữ liệu ngày càng nhanh, năng lực kiểm soát dữ liệu nội bộ trở thành một phần của năng lực tuân thủ và bảo vệ giấy phép.
| Đón đọc kỳ 3: Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng |