Thông tư quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đối với các tổ chức tín dụng được phép sản xuất vàng miếng, kinh doanh mua, bán vàng miếng, bao gồm cả hoạt động mua, bán vàng nguyên liệu dưới hình thức giao dịch giao ngay theo quy định.
![]() |
| Trạng thái vàng của tổ chức tín dụng là số dư vàng miếng phát sinh từ hoạt động mua, bán vàng miếng của tổ chức tín dụng được quy đổi sang đồng Việt Nam theo giá vàng quy đổi trạng thái. |
Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh mua, bán vàng miếng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.
Trạng thái vàng của tổ chức tín dụng là số dư vàng miếng và vàng nguyên liệu phát sinh từ các hoạt động: sản xuất vàng miếng; kinh doanh mua, bán vàng miếng; mua, bán vàng nguyên liệu; xuất khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng miếng; nhập khẩu vàng nguyên liệu của các tổ chức tín dụng được quy đổi sang đồng Việt Nam theo giá vàng quy đổi trạng thái.
Về nguyên tắc xác định, trạng thái vàng của tổ chức tín dụng được tính tại thời điểm cuối ngày làm việc. Việc xác định trạng thái vàng căn cứ trên các yếu tố gồm: khối lượng vàng miếng sản xuất; khối lượng vàng nguyên liệu đã sử dụng để sản xuất vàng miếng (bao gồm cả hao hụt nếu có); doanh số mua, bán vàng miếng, vàng nguyên liệu giao ngay; các cam kết mua, bán vàng; doanh số xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng và vàng nguyên liệu, bao gồm cả các cam kết liên quan.
Theo quy định, trạng thái vàng không bao gồm số dư vàng miếng phát sinh từ các hoạt động trước ngày 10/1/2013. Cụ thể là các hoạt động như huy động, cho vay bằng vàng theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 32/2011/TT-NHNN và Thông tư số 12/2012/TT-NHNN); chuyển đổi vàng sang đồng Việt Nam theo Thông tư số 32/2011/TT-NHNN; nhận cầm cố bằng vàng, giữ hộ vàng và các mục đích sử dụng vàng khác.
Về giới hạn trạng thái vàng, Thông tư quy định trạng thái vàng cuối ngày của tổ chức tín dụng không vượt quá 5% vốn tự có đối với tổ chức tín dụng được phép sản xuất vàng miếng. Đối với tổ chức tín dụng được phép kinh doanh mua, bán vàng miếng, giới hạn này là không vượt quá 2% vốn tự có, trừ trường hợp thuộc nhóm được phép sản xuất vàng miếng.
Vốn tự có để tính giới hạn được xác định là vốn tự có của tháng liền kề trước kỳ báo cáo, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Đồng thời, tổ chức tín dụng không được duy trì trạng thái vàng âm theo quy định tại Thông tư.
Trong trường hợp cần thiết, tổ chức tín dụng có thể duy trì trạng thái vàng vượt giới hạn nêu trên khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận.
Về chế độ báo cáo, Thông tư quy định chậm nhất đến 14 giờ của ngày làm việc, tổ chức tín dụng phải gửi báo cáo trạng thái vàng của ngày làm việc liền kề trước đó về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Cục Quản lý ngoại hối) theo phụ lục ban hành kèm theo Thông tư.