Theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi tại điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa toàn diện là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Hành lang pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp tự bảo vệ tài sản trí tuệ
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp trước các hành vi xâm phạm ngày càng tinh vi, hệ thống pháp luật hiện hành đã trao cho chủ thể quyền nhiều công cụ chủ động.
![]() |
| Để bảo vệ giá trị đúng đắn của những đóng góp sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành một phần quan trọng của hệ thống luật pháp. |
Căn cứ Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật năm 2022 và Luật năm 2025), chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết sau để tự bảo vệ:
Áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, gỡ bỏ nội dung vi phạm trên không gian mạng, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.
Yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hoặc thực hiện khởi kiện tại Tòa án, Trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Song song với quyền tự bảo vệ, Điều 9 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể khác theo quy định pháp luật liên quan.
Đồng thời, Khoản 2 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi tại Khoản 3 Điều 1 Luật năm 2025) nhấn mạnh việc khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Quy định này ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp lạm dụng các thủ tục bảo vệ để gây thiệt hại cho các chủ thể cạnh tranh.
Quy định về mâu thuẫn xác lập quyền: Theo Khoản 4 Điều 7 được bổ sung tại Luật năm 2025, trường hợp một đối tượng có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập thì quyền phát sinh/xác lập sau có thể bị buộc chấm dứt thực hiện nếu mâu thuẫn với việc khai thác bình thường của quyền đã xác lập trước. Thẩm quyền quyết định chấm dứt thực hiện quyền trong trường hợp này thuộc về Tòa án.
Điểm mới về Trí tuệ nhân tạo (AI) và Chuyển đổi số toàn diện
Bước sang giai đoạn công nghệ mới, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã bổ sung nhiều quy định mang tính đột phá nhằm quản lý hoạt động số hóa và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Tại Khoản 5 Điều 7 (bổ sung tại Khoản 3 Điều 1), luật cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI). Điều kiện bắt buộc đi kèm là việc sử dụng này không được ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả cũng như chủ sở hữu quyền.
Bên cạnh đó, để tối ưu hóa công tác quản lý, Điều 11b (bổ sung tại khoản 6 Điều 1) quy định Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ. Chương trình bao gồm phát triển hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền và ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của toàn bộ hệ thống.
Hệ thống quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ
Về trách nhiệm quản lý vĩ mô, Điều 11 Luật Sở hữu trí tuệ quy định Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực này, trong đó phân định rõ quyền hạn của các Bộ chuyên ngành:
Bộ Khoa học và Công nghệ: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ thực hiện quản lý Nhà nước chung về sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước trực tiếp về quyền sở hữu công nghiệp.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Thực hiện quản lý Nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Thực hiện quản lý Nhà nước về quyền đối với giống cây trồng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Theo Điều 10 Luật Sở hữu trí tuệ, nội dung quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ các khâu từ xây dựng chính sách, ban hành pháp luật, cấp văn bằng bảo hộ đến công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm. Sự phối hợp chặt chẽ này đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch, thúc đẩy doanh nghiệp chủ động thực thi quyền để bảo vệ tài sản trí tuệ một cách hợp pháp.
| Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền được cấp phép cho cá nhân hoặc tổ chức nhằm bảo vệ mục tiêu và khuyến khích sáng tạo và đổi mới. Những quyền này đều liên quan đến sản phẩm trí tuệ, bao gồm ý tưởng, sáng chế, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm văn học, thiết kế, nhãn hiệu và nhiều khía cạnh khác của sự sáng tạo. Quyền sở hữu trí tuệ giúp xác định chủ sở hữu và ngăn chặn người khác sao chép, sử dụng hay thương mại hóa mà không được phép. |