Thứ hai 31/08/2026 01:33
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Phương pháp xác định số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm hành chính

23/11/2022 15:06
Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, đơn giá thì số lợi bất hợp pháp có được là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định.

Số lợi bất hợp pháp thu được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Căn cứ tại Điều 4 Thông tư 65/2022/TT-BTC quy định số lợi bất hợp pháp thu được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính như sau:

Thông tư số 65/2022/TT-BTC ngày 2/11/2022 của Bộ Tài chính đã quy định chi tiết về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính (Ảnh minh họa)

Thông tư số 65/2022/TT-BTC ngày 2/11/2022 Bộ Tài chính quy định chi tiết về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính (Ảnh minh họa).

Số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 37 Luật Xử lý vi phạm hành chính; điểm e, khoản 3, Điều 4 Nghị định 98/2020/NĐ-CP và khoản 2, Điều 3 Nghị định 17/2022/NĐ- CP là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc tài sản khác có được từ hành vi vi phạm hành chính mà tổ chức, cá nhân đó đã thực hiện trong lĩnh vực hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nguyên tắc xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Căn cứ tại Điều 3 Thông tư 65/2022/TT-BTC Tải vềquy định nguyên tắc xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính như sau:

Việc xác định số lợi bất hợp pháp do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện và ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Số lợi bất hợp pháp được xác định từ khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính đến thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quá.

Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì xác định sổ lợi bất hợp pháp có được theo từng hành vi vi phạm hành chính.

Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần thì xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo từng lần.

Thông tư số 65/2022/TT-BTC ngày 2/11/2022 của Bộ Tài chính đã quy định chi tiết về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính buộc phải nộp lại theo khoản 2, Điều 91 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ.

Cụ thể, Thông tư số 65/2022/TT-BTC quy định chi tiết khoản 2 Điều 91 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp (bao gồm tiền, giấy tờ có giá, vật và tài sản khác) có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật trong lĩnh vực hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Theo đó, số lợi bất hợp pháp có được bằng tiền là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm hành chính và được tính bằng số tiền thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ vi phạm sau khi đã trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa, dịch vụ căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó do tổ chức, cá nhân vi phạm cung cấp.

Phương pháp xác định số tiền tổ chức, cá nhân vi phạm có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính được tính bằng (=) số lượng hàng hóa, khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ nhân (x) với đơn giá hàng hóa, dịch vụ trừ (-) chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa hoặc dịch vụ (nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có đầy đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó).

Trong đó, số lượng hàng hóa hoặc khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ được xác định trên cơ sở kê khai của tổ chức, cá nhân vi phạm và kiểm tra, xác minh của người có thẩm quyền xử phạt. Đơn giá hàng hóa, dịch vụ được xác định trên cơ sở hồ sơ, chứng từ của tổ chức, cá nhân vi phạm.

Cần lưu ý các trường hợp cụ thể có thể xảy ra được quy đinh định như sau:

Thứ nhất: Trường hợp không có hồ sơ, chứng từ để xác định thì đơn giá được xác định theo giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ tương tự tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

Thứ hai: Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, đơn giá thì số lợi bất hợp pháp có được là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định.

Thứ ba: Trường hợp các tổ chức, cá nhân nhận gia công cho thương nhân nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm thì số lợi bất hợp pháp có được từ hoạt động gia công hàng hóa là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động gia công (tiền thuê, phí gia công) trừ (-) chi phí trực tiếp cấu thành nên tiền thuê gia công, tiền phí gia công (nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có đầy đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó).

Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hàng hóa gia công thì số lợi bất hợp pháp phải nộp vào ngân sách nhà nước là toàn bộ số tiền nêu trên cộng (+) số tiền bằng với trị giá tang vật vi phạm hành chính có được do đã chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

Trường hợp chuyển nhượng, tiêu thụ hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu hoặc cung cấp dịch vụ kinh doanh có điều kiện thì số lợi bất hợp pháp có được bằng tiền là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ đó.

Về xác định số lợi bất hợp pháp là giấy tờ có giá, Thông tư số 65/2022/TT-BTC hướng dẫn, số lợi bất hợp pháp có được bằng giấy tờ có giá là toàn bộ giấy tờ có giá mà tổ chức, cá nhân vi phạm thu được từ hành vi vi phạm hành chính. Giấy tờ có giá này là các loại giấy tờ có giá theo quy định của Bộ Luật Dân sự và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của Luật chuyên ngành.

Trường hợp giấy tờ có giá đã được chuyển nhượng thì số lợi bất hợp pháp được xác định bằng số tiền thực tế thu được tại thời điểm chuyển nhượng. Trường hợp giấy tờ có giá đã bị tẩu tán, tiêu hủy thì số lợi bất hợp pháp được xác định theo giá trị sổ sách của tổ chức phát hành giấy tờ có giá tại thời điểm tẩu tán, tiêu hủy.

Thông tư số 65/2022/TT-BTC cũng hướng dẫn xác định số lợi bất hợp pháp là vật, tài sản khác. Theo đó, số lợi bất hợp pháp là vật, tài sản khác mà tổ chức, cá nhân vi phạm thu được từ hành vi vi phạm hành chính là các tài sản khác theo quy định của Bộ Luật Dân sự.

Trường hợp vật, tài sản khác không phải hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy thì số lợi bất hợp pháp được xác định bằng số tiền tương đương giá trị thị trường của tài sản cùng loại hoặc xác định theo giá trị sổ sách của tài sản (nếu không có giá trị thị trường) hoặc xác định bằng giá trị tiền của tài sản ghi trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu, tờ khai hàng hóa nhập khẩu (nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) của tổ chức, cá nhân vi phạm sau khi trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó.

Trường hợp vật, tài sản khác là hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu đã được chuyển nhượng, tiêu thụ thì số lợi bất hợp pháp được xác định là tổng số tiền mà tổ chức, cá nhân nhận được khi thực hiện chuyển nhượng.

Theo Thông tư số 65/2022/TT-BTC, về xác định số tiền phải nộp đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật, trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật thì tổ chức, cá nhân vi phạm phải nộp lại số tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

Phương Ngân (T/h)

Bài liên quan
Tin bài khác
Doanh nghiệp phải làm gì theo quy định mới về an ninh thông tin mạng?

Doanh nghiệp phải làm gì theo quy định mới về an ninh thông tin mạng?

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam sẽ phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu mới về bảo đảm an ninh thông tin mạng. Đáng chú ý là thời hạn cung cấp thông tin có thể chỉ còn 3 giờ trong trường hợp khẩn cấp và nhật ký hệ thống phải bảo đảm khả năng truy xuất ít nhất 12 tháng.
Doanh nghiệp phải làm gì theo quy định mới về an ninh thông tin mạng?

Doanh nghiệp phải làm gì theo quy định mới về an ninh thông tin mạng?

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam sẽ phải đáp ứng hàng loạt yêu cầu mới về bảo đảm an ninh thông tin mạng. Đáng chú ý là thời hạn cung cấp thông tin có thể chỉ còn 3 giờ trong trường hợp khẩn cấp và nhật ký hệ thống phải bảo đảm khả năng truy xuất ít nhất 12 tháng.
Doanh nghiệp Hà Nội đối mặt nhiều điểm mới về thuế, hóa đơn

Doanh nghiệp Hà Nội đối mặt nhiều điểm mới về thuế, hóa đơn

Ngày 18/8, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Sở Tài chính Hà Nội tổ chức Hội nghị đối thoại với chủ đề “Thuế GTGT và hóa đơn; điểm mới và tác động đến doanh nghiệp”.
Sàn dữ liệu mở cửa nhưng không dành cho mọi nguồn dữ liệu

Sàn dữ liệu mở cửa nhưng không dành cho mọi nguồn dữ liệu

Sàn dữ liệu đang được đặt nền móng cho một thị trường mới, nơi dữ liệu không chỉ được khai thác mà còn trở thành sản phẩm có thể giao dịch. Tuy nhiên, để tham gia thị trường này, doanh nghiệp phải chứng minh được dữ liệu có nguồn gốc hợp pháp, đủ điều kiện khai thác và đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, an toàn, bảo mật. Với doanh nghiệp nước ngoài, cánh cửa còn gắn với một điều kiện quan trọng: phải có hiện diện thương mại tại Việt Nam.
Doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý gì về thuế nhà thầu khi thuê vận tải quốc tế?

Doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý gì về thuế nhà thầu khi thuê vận tải quốc tế?

Chi phí vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang nước ngoài không chỉ là câu chuyện của hợp đồng logistics. Với doanh nghiệp xuất khẩu, cách xác định bản chất dịch vụ và điều kiện thanh toán có thể quyết định nghĩa vụ thuế nhà thầu cũng như khả năng áp dụng thuế GTGT 0% đối với phí vận chuyển.
Codex đổi 304 điều khoản, doanh nghiệp thực phẩm phải rà soát gì?

Codex đổi 304 điều khoản, doanh nghiệp thực phẩm phải rà soát gì?

72 phụ gia và 304 điều khoản sử dụng được cập nhật trong GSFA 2026 không chỉ là thay đổi kỹ thuật của Codex. Với doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực phẩm, đây có thể là điểm phát sinh chi phí, chậm giao hàng hoặc vướng mắc khi tiếp cận thị trường nếu công thức và hồ sơ không được cập nhật kịp thời.
Cung cấp thông tin thuế sai có thể bị phạt tới 100 triệu đồng

Cung cấp thông tin thuế sai có thể bị phạt tới 100 triệu đồng

Không chỉ người nộp thuế, nhiều tổ chức và cá nhân đang nắm giữ thông tin tài chính, tài khoản, chủ sở hữu hưởng lợi cũng có thể phát sinh nghĩa vụ cung cấp dữ liệu cho ơ quan Thuế. Vi phạm có thể dẫn tới mức phạt 100 triệu đồng và vẫn phải tiếp tục cung cấp thông tin.
Doanh nghiệp cần làm gì để tránh rủi ro khi cung cấp thông tin thuế?

Doanh nghiệp cần làm gì để tránh rủi ro khi cung cấp thông tin thuế?

Cung cấp thiếu, sai hoặc chậm thông tin theo yêu cầu của Cơ quan Thuế có thể kéo theo rủi ro vi phạm hành chính. Cục Thuế đang yêu cầu toàn ngành tăng cường tuyên truyền để người nộp thuế chủ động thực hiện đúng nghĩa vụ trong bối cảnh quản lý thuế ngày càng dựa nhiều hơn vào dữ liệu.
Sáu "điểm nghẽn" trong quản lý vận hành chung cư cần được tháo gỡ

Sáu "điểm nghẽn" trong quản lý vận hành chung cư cần được tháo gỡ

Trong bối cảnh hoạt động quản lý, vận hành nhà chung cư ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu mới, sự thiếu đồng bộ giữa các quy định về nhà ở, thuế, phòng cháy chữa cháy, môi trường và quản trị đô thị đang tạo ra không ít vướng mắc trong thực tiễn. Trước những vấn đề này, Hiệp hội Quản lý Vận hành Nhà chung cư TP.HCM (HCMO) tổ chức tọa đàm chuyên đề “Cập nhật chính sách thuế trong quản lý vận hành nhà chung cư – Góp ý Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)”, nhằm trao đổi, nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan.
Doanh nghiệp cần biết: Quy trình kiểm dịch qua Cửa khẩu thông minh tại Lạng Sơn

Doanh nghiệp cần biết: Quy trình kiểm dịch qua Cửa khẩu thông minh tại Lạng Sơn

Quy trình kiểm dịch y tế mới tại Cửa khẩu thông minh Hữu Nghị được xây dựng phù hợp với mô hình vận chuyển bằng phương tiện không người lái, giúp chuẩn hóa hoạt động quản lý, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình thông quan.
Quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhiều năm còn được hoàn thuế?

Quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhiều năm còn được hoàn thuế?

Nhiều người lao động vì chủ quan hoặc không nắm rõ quy định đã chậm quyết toán thuế thu nhập cá nhân nhiều năm. Theo quy định hiện hành, việc nộp hồ sơ quá hạn có thể bị xử phạt trong một số trường hợp, nhưng quyền hoàn hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vẫn được pháp luật bảo đảm nếu chưa quá thời hạn.
Kinh doanh online đừng để sai từ tài khoản ngân hàng đến hóa đơn

Kinh doanh online đừng để sai từ tài khoản ngân hàng đến hóa đơn

Thuế TP. Hà Nội cho biết phần lớn sai sót về thuế trong hoạt động thương mại điện tử không xuất phát từ hành vi trốn thuế mà do người kinh doanh chưa cập nhật chính sách mới. Cơ quan Thuế khuyến nghị chủ động nhận diện 5 nhóm rủi ro để giảm chi phí tuân thủ và tránh phát sinh vi phạm.
Bài cuối: Quản trị rủi ro pháp lý trong thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Lộ trình hành động cho doanh nghiệp

Bài cuối: Quản trị rủi ro pháp lý trong thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Lộ trình hành động cho doanh nghiệp

Sau ba bài viết phân tích những vấn đề pháp lý tổng quan, nhận diện các lớp rủi ro cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng, cũng như tác động đến đầu tư, chính sách công nghiệp và quản trị hợp đồng, loạt bài bước sang phần kết với trọng tâm là hành động. Thay vì tiếp cận dưới góc độ chính sách, bài viết tập trung vào những việc doanh nghiệp cần triển khai ngay: phân loại mức độ rủi ro, xây dựng lộ trình tuân thủ theo từng giai đoạn, chuẩn bị các câu hỏi mà ban lãnh đạo phải có lời giải và xác lập tư duy quản trị phù hợp trước những thay đổi trong quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. Đây không chỉ là danh mục kiểm tra về tuân thủ, mà còn là khung tham chiếu giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu, bảo vệ chuỗi cung ứng và duy trì năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn thương mại quốc tế ngày càng khắt khe.
Bài 4: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và những tác động tới đầu tư, chính sách công nghiệp, quản trị hợp đồng

Bài 4: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và những tác động tới đầu tư, chính sách công nghiệp, quản trị hợp đồng

Tiếp nối ba bài viết trước về những vấn đề pháp lý đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, các lớp rủi ro pháp lý trong hàng hóa và chuỗi cung ứng, cũng như những yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ, bài viết này đi sâu phân tích những tác động trực tiếp của tiến trình đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đối với môi trường đầu tư, chính sách công nghiệp và hoạt động ký kết, thực hiện hợp đồng. Khi các ưu đãi đầu tư, cơ chế trợ cấp, quy định về năng lượng, mua sắm công và thực thi cam kết thương mại ngày càng chịu sự giám sát chặt chẽ, doanh nghiệp không chỉ cần nắm bắt cơ hội mà còn phải chủ động nhận diện và quản trị các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong toàn bộ vòng đời của dự án và giao dịch thương mại.
Bài 3: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới: Các yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ

Bài 3: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới: Các yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ

Sau khi phân tích bối cảnh pháp lý của quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và nhận diện các lớp rủi ro cốt lõi đối với hàng hóa, chuỗi cung ứng trong hai bài viết trước, vấn đề đặt ra không còn dừng ở thuế quan hay quy tắc xuất xứ. Trong bối cảnh các chuẩn mực thương mại toàn cầu ngày càng mở rộng, doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với một hệ thống yêu cầu tuân thủ mới, từ hàng rào kỹ thuật, an toàn sản phẩm, thương mại số, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ đến lao động, ESG và quản trị rủi ro tài chính. Đây không chỉ là các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ luật quốc gia hay cam kết quốc tế, mà ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường, yêu cầu của hợp đồng và tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhận diện đầy đủ những chuẩn mực này sẽ giúp doanh nghiệp chuyển từ tư duy "tuân thủ để xuất khẩu" sang "tuân thủ để cạnh tranh và phát triển bền vững" trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ và các thị trường có tiêu chuẩn cao.