Xin chào luật sư, tôi có một câu hỏi liên quan đến việc nhận bảo hiểm thất nghiệp khi đã tìm được việc làm. Hiện tại, người lao động (NLĐ) đã nghỉ việc ở công ty cũ gần 2 tháng nhưng chưa có sổ bảo hiểm. Giờ NLĐ đó định vào công ty mới làm việc, NLĐ có nên thông báo là "tôi không có bảo hiểm" để tránh mất quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp ở công ty cũ nếu họ nộp sổ vào công ty mới không?
Luật sư Lê Anh Văn: Theo Luật Việc làm năm 2013, việc NLĐ có đóng bảo hiểm tại công ty mới hay không không phải là căn cứ để chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. "Tìm được việc làm" mới là căn cứ để NLĐ dừng hoặc chấm dứt việc hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Nếu họ đã tìm được việc làm nhưng không thông báo với trung tâm giới thiệu việc làm (để hưởng tiền bảo hiểm thất nghiệp), NLĐ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 88/2015/NĐ-CP.
Vậy điều kiện để chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp là gì?
Luật sư: Điều 53 của Luật Việc làm 2013 quy định về tạm dừng, tiếp tục và chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Theo đó, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp trong trường hợp tìm được việc làm (điểm b). Tuy nhiên, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà NLĐ đã nộp tại công ty cũ sẽ được bảo lưu và căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo (điểm n, khoản 3, Điều 53).
Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đã hưởng trợ cấp thất nghiệp. Mỗi tháng đã hưởng trợ cấp tương ứng với 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Vì vậy, việc NLĐ không có sổ bảo hiểm tại công ty cũ không ảnh hưởng đến quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp của họ.
Vậy nếu NLĐ không thông báo với trung tâm giới thiệu việc làm về việc tìm được công việc mới, có hình phạt nào áp dụng không?
Luật sư: Nếu NLĐ không thông báo với trung tâm giới thiệu việc làm theo quy định khi tìm được việc làm trong thời hạn 15 ngày, họ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 88/2015/NĐ-CP. Theo quy định này, vi phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng sẽ được áp dụng đối với người lao động có hành vi không thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm khi tìm được việc làm.
Nếu NLĐ không thông báo và tiếp tục nhận bảo hiểm thất nghiệp từ công ty cũ, họ có bị xử phạt không?
Luật sư: Nếu NLĐ tiếp tục nhận trợ cấp thất nghiệp mà không thông báo về việc tìm kiếm việc làm, họ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, tôi khuyến nghị nên tuân thủ quy định và thông báo với trung tâm giới thiệu việc làm khi tìm được việc mới để tránh các vấn đề pháp lý có thể phát sinh.
Có cách nào khắc phục hậu quả nếu đã vi phạm luật này?
Luật sư: Nếu NLĐ bị xử phạt vi phạm quy định về bảo hiểm thất nghiệp, NLĐ sẽ bị buộc phải trả lại số tiền bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp đã nhận do vi phạm. Ngoài ra, theo quy định, NLĐ sẽ không được bảo lưu số tháng đóng bảo hiểm mặc dù đã trả lại số tiền trợ cấp theo quyết định xử phạt.
Vậy nếu NLĐ đã nộp đầy đủ các thông báo và đủ điều kiện, liệu họ có nhận được tiền bảo hiểm thất nghiệp không?
Luật sư: Để nhận được trợ cấp thất nghiệp, bạn cần tuân thủ quy định về thông báo tìm kiếm việc làm hàng tháng với trung tâm dịch vụ việc làm và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc nhận được tiền bảo hiểm thất nghiệp hay không sẽ phụ thuộc vào quy định của cơ quan quản lý lao động và thẩm định hồ sơ của bạn.
Một câu hỏi về cấp và thu hồi thẻ bảo hiểm y tế, trong trường hợp NLĐ đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Xin ông cho biết tổ chức bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế cho NLĐ như thế nào?
Luật sư: Căn cứ vào quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ cấp thẻ bảo hiểm y tế cho NLĐ. Thẻ này cho phép người lao động được hưởng các quyền lợi y tế và chăm sóc sức khỏe tương ứng.
Vậy khi trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt, NLĐ có được tiếp tục sử dụng thẻ bảo hiểm y tế không và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính như thế nào?
Luật sư: Không, khi hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt, NLĐ sẽ không còn được hưởng bảo hiểm y tế và phải trả lại thẻ bảo hiểm y tế cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Vậy mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của luật là bao nhiêu?
Luật sư: Theo quy định của Luật Việc làm năm 2013, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính dựa trên mức lương và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ.
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Tuy nhiên, mức trợ cấp này không vượt quá 5 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính dựa trên số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động sẽ được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp sau khi đã đóng đủ 12 tháng và không quá 36 tháng. Sau đó, mỗi lần đóng thêm đủ 12 tháng, người lao động sẽ được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp thất nghiệp, nhưng tối đa không quá 12 tháng.
Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.
Trân trọng cảm ơn ông!
An Nguyên (thực hiện)