| Bài liên quan |
| Thanh khoản ngân hàng tăng nhưng chi phí vốn doanh nghiệp chưa dễ giảm |
| Khách VIP ngân hàng: Bao nhiêu tiền mới được vào “câu lạc bộ” đặc quyền? |
Thông tin từ Cục Thống kê, trong quý III/2026, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay cơ bản ổn định.
Tính đến ngày 28/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm 2025, trong khi cùng thời điểm năm trước tăng 9,99%. Tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 10,89%, thấp hơn mức tăng 13,37% ghi nhận vào cùng thời điểm năm 2025.
Trong quý III, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh các giải pháp nhằm ổn định mặt bằng lãi suất. Tại thời điểm tháng 8, lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,1-4,6%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng.
Đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng, lãi suất tiền gửi bình quân ở mức 6,5-8%/năm; kỳ hạn trên 12 tháng đến 24 tháng ở mức 6,1-7,6%/năm và kỳ hạn trên 24 tháng ở mức 7,2-8,1%/năm.
Trong khi đó, lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và dư nợ hiện hữu dao động từ 8,4-10,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm, bằng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
![]() |
| Cục trưởng Cục Thống kê thông tin về hoạt động ngân hàng, bảo hiểm tại Họp báo. |
Tỷ giá trung tâm tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường.
Đến ngày 30/9/2026, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 VND/USD, tăng 2,01% so với cuối năm 2025.
Tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, tỷ giá niêm yết mua vào ở mức 25.750 VND/USD, giảm 1,14% so với cuối năm 2025; tỷ giá niêm yết bán ra ở mức 26.160 VND/USD, giảm 0,82%.
Cùng với tín dụng thương mại, tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Đến ngày 30/9/2026, tổng số vốn giải ngân các chương trình tín dụng chính sách xã hội đạt 118,5 nghìn tỷ đồng, với hơn 1,584 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn từ đầu năm.
Tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt 457,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,6% so với năm 2025. Hơn 6,6 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác đang còn dư nợ.
Thị trường bảo hiểm duy trì tăng trưởng ổn định, trong đó bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu.
Trong quý III/2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 57,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 175,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4%.
Đáng chú ý, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 101,7 nghìn tỷ đồng, giảm 5,2%, trong khi doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 74,1 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%.
Hoạt động chi trả quyền lợi bảo hiểm cũng tăng. Trong 9 tháng, số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 77,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Quy mô tài chính của thị trường bảo hiểm tiếp tục được mở rộng. Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 1.062,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1%; tổng tài sản thị trường bảo hiểm đạt khoảng 1.211,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9%.
Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tăng 8,2%, trong khi tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng 4,6%.
![]() |
| Thị trường chứng khoán ghi nhận mức tăng đáng kể về huy động vốn trong 9 tháng năm 2026. |
Thị trường chứng khoán ghi nhận mức tăng đáng kể về huy động vốn trong 9 tháng năm 2026. Tổng mức huy động vốn trên thị trường đạt 731,6 nghìn tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tính đến cuối tháng 8 đạt gần 13,89 triệu tài khoản, tăng 16,98% so với cuối năm 2025.
Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 30/9, VN-Index đạt 1.768,62 điểm, giảm 0,9% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 10.306,94 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3%.
Thanh khoản thị trường có sự biến động. Giá trị giao dịch bình quân trong tháng 9 đạt 17,7 nghìn tỷ đồng/phiên, giảm 5% so với bình quân tháng trước. Tính chung 9 tháng, giá trị giao dịch bình quân đạt 25,6 nghìn tỷ đồng/phiên, giảm 12,4% so với bình quân năm 2025.
Đến cuối tháng 8, thị trường cổ phiếu có 727 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết, cùng 819 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM. Tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt 2.973,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,68% so với cuối năm 2025.
Trên thị trường trái phiếu, giá trị giao dịch bình quân tháng 9 đạt 21,8 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 26,8% so với bình quân tháng trước. Tính chung 9 tháng, giá trị giao dịch bình quân đạt 17,1 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 15,3% so với bình quân năm 2025.
Đến cuối tháng 8, thị trường trái phiếu có 485 mã trái phiếu niêm yết, với giá trị niêm yết đạt 2.878 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với bình quân năm 2025.
Đối với thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân tháng 9 đạt 219,4 nghìn hợp đồng/phiên, giảm 4,2% so với bình quân tháng trước.
Sản phẩm chứng quyền có bảo đảm đạt khối lượng giao dịch bình quân 49,1 triệu chứng quyền/phiên, giảm 23,9%; giá trị giao dịch bình quân đạt 39,9 tỷ đồng/phiên, giảm 17,1%.
Tính từ đầu năm đến nay, khối lượng giao dịch phái sinh bình quân đạt 232,8 nghìn hợp đồng/phiên, giảm 4,6% so với bình quân năm 2025. Trong khi đó, chứng quyền có bảo đảm đạt 59,4 triệu chứng quyền/phiên, tăng 10,1%, còn giá trị giao dịch bình quân đạt 73,8 tỷ đồng/phiên, giảm 13,9%.
Đáng chú ý, thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2026 đạt dấu mốc quan trọng khi chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, qua đó tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn đầu tư.