Bức tranh tài sản của ngành ngân hàng trong quý I/2026 đang cho thấy áp lực ngày càng rõ nét khi nợ xấu tăng diện rộng tại nhiều tổ chức tín dụng. Sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng mạnh để hỗ trợ phục hồi kinh tế, nhiều khoản vay bắt đầu bước vào giai đoạn “kiểm định chất lượng” thực chất hơn, kéo theo áp lực phân loại nợ và trích lập dự phòng gia tăng.
Báo cáo tài chính quý I/2026 cho thấy, tỷ lệ nợ xấu tại nhiều ngân hàng tại cuối tháng 3/2026 vượt trần 3% theo Quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Nói thêm, tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng được thống kê dưới đây được tính bằng tổng nợ các nhóm 3, 4 và 5 chia cho tổng dư nợ tín dụng tại cuối kỳ.
Với bảng thống kê bên dưới, có thể thấy tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng NCB đang dẫn đầu với 7,25%. Dù vậy nếu so với đầu năm, tỷ lệ nợ xấu của NCB đã giảm 1,38 điểm % và trở thành 6 trong 27 ngân hàng được thống kê có tỷ lệ nợ xấu cải thiện.
Tỷ lệ nợ xấu tại NCB có xu hướng giảm đáng kể từ năm 2024 đến nay sau khi ngân hàng này thực hiện tái cơ cấu quyết liệt, với mục tiêu kiểm soát chặt chẽ các khoản giải ngân mới, song song với tích cực thu hồi hàng nghìn tỷ đồng nợ cũ.
Xếp sau NCB là Ngân hàng Sacombank với tỷ lệ nợ xấu đạt 6,62%. So với đầu năm, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này đã tăng thêm 0,21 điểm %, phản ánh áp lực xử lý tồn đọng tài sản cũ chưa hoàn toàn kết thúc.
Nhóm những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu vượt mức trần 3% còn có PGBank (4,03%), OCB (3,69%), VPBank (3,58%), Saigonbank (3,52%), VietBank (3,35%) và BVBank (3,11%). Đây đều là những ngân hàng quy mô nhỏ hoặc tầm trung.
Bên cạnh đó, cũng có một số nhà băng có tỷ lệ nợ xấu gần chạm "vạch đỏ" là VIB (2,94%) và Eximbank (2,89%).
![]() |
| Nguồn: Báo cáo tài chính quý I/2026. |
Trong khi đó, Vietcombank vẫn đang là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất ngành, với 0,62% tại cuối quý I/2026. Song, nếu so với đầu năm, tỷ lệ này đã tăng 0,04 điểm %.
Bên cạnh Vietcombank, các ngân hàng quốc doanh còn lại là VietinBank và BIDV cũng duy trì chất lượng nợ xấu ở mức tốt, lần lượt đạt 1,02% và 1,76%.
Một số ngân hàng vẫn duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp như ABBank (0,85%), ACB (0,97%), Techcombank (1,09%), VietABank (1,29%), MB (1,42%), Nam A Bank (1,82%), LPBank (1,84%).
Nếu xét về tốc độ tăng trưởng tỷ lệ nợ xấu, PGBank là trường hợp đáng chú ý khi chứng kiến mức tăng 1,68 điểm % lên mức 4,03%. Đây cũng là nhà băng có tỷ lệ nợ xấu vượt mức trần 3%.
Nguyên nhân của sự thay đổi này là do nợ xấu của PGBank tăng vọt 64% lên gần 1.800 tỷ đồng, với mức tăng chủ yếu từ nợ nhóm 3. Trong khi đó tổng dư nợ cho vay giảm 3% về 47.000 tỷ đồng.
Ngân hàng này hiện có hơn 1.000 tỷ nợ xấu đã bán cho VAMC, trong đó đã trích lập dự phòng hơn một nửa (556 tỷ).
Bên cạnh đó, có một số ngân hàng chịu áp lực gia tăng tỷ lệ nợ xấu trong quý đầu năm là Bac A Bank (tăng 0,73 điểm %), SaigonBank (tăng 0,57 điểm %),...
Không chỉ nợ xấu gia tăng, một xu hướng đáng chú ý khác là tỷ lệ bao phủ nợ xấu - chỉ tiêu phản ánh khả năng hấp thụ rủi ro của ngân hàng – đang giảm mạnh tại nhiều tổ chức tín dụng.
Theo thống kê, tỷ lệ bao phủ nợ xấu bình quân toàn hệ thống giảm từ 83,3% cuối năm 2025 xuống còn 74,9% vào cuối quý I/2026. Điều này đồng nghĩa “bộ đệm” dự phòng của nhiều ngân hàng đã mỏng đi đáng kể chỉ sau một quý.
Một số ngân hàng ghi nhận mức giảm sâu. TPBank giảm từ 92,5% xuống còn 68,4%; Bac A Bank giảm từ 107,5% xuống 67,9%; PGBank giảm từ 51,2% xuống còn 31,1%;...
Saigonbank tiếp tục nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ thấp nhất khi chỉ còn 29,3%, trong khi Eximbank giảm còn 37,8%. NCB dù cải thiện nhẹ nhưng mức bao phủ vẫn ở mức rất thấp, chỉ 18,1%.
Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh như Vietcombank vẫn duy trì vị thế là ngân hàng có “bộ đệm” dự phòng dày nhất hệ thống với tỷ lệ bao phủ lên tới 253,4%. VietinBank cũng là điểm sáng khi nâng tỷ lệ bao phủ từ 158,8% lên 167,2% trong vòng 3 tháng đầu năm.
Việc tỷ lệ bao phủ suy giảm phản ánh áp lực trích lập dự phòng ngày càng lớn trong bối cảnh chất lượng tài sản đi xuống. Khi nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tích lũy dự phòng, khả năng chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc tín dụng cũng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
Đây cũng là lý do nhiều ngân hàng bắt đầu thận trọng hơn trong chiến lược tín dụng thời gian gần đây, đặc biệt với các phân khúc có hệ số rủi ro cao như bất động sản, cho vay tiêu dùng hoặc khách hàng doanh nghiệp có dòng tiền yếu.