Thứ hai 03/08/2026 21:16
Hotline: 024.355.63.010
Pháp luật

Một số quyền của các bên trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Luật trọng tài Việt Nam

13/06/2021 20:29
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM). Do đề cao quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên, minh bạch, linh hoạt, thân thiện,

Việc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đảm bảo cho việc doanh nghiệp lựa chọn giải quyết bằng phương thức trọng tài được hiệu quả. Bài viết này đề cập về một số quyền của các bên trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên xuyên suốt, chi phối trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp bằng tố tụng trọng tài, được thể hiện trong LTTTM và/hoặc trong quy tắc tố tụng trọng tài của các trung tâm trọng tài. Cụm từ “do các bên thỏa thuận”, “nếu các bên thỏa thuận”, “do các bên lựa chọn”, “trường hợp các bên đã có thỏa thuận”, “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”...xuất hiện trong nhiều điều khoản của LTTTM. Theo đó, các bên có quyền thỏa thuận về việc lập thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi xảy tranh chấp, lựa chọn trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên, thành phần hội đồng trọng tài, hình thức trọng tài (quy chế hoặc vụ việc), ngôn ngữ, địa điểm, luật áp dụng trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài, phiên họp giải quyết tranh chấp, thành phần thủ tục phiên họp giải quyết tranh chấp…. Khoản 1 Điều 4 LTTTM quy định rõ: “Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”. Điều 6 LTTTM quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”.

Để được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, trước hết các bên phải có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và có thể thực hiện được. Theo đó, cần lưu ý một số nội dung sau: (1) Đối tượng giải quyết của thỏa thuận trọng tài là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài; (2) Người xác lập thỏa thuận trọng tài phải có đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 điều 12 Luật doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Do đó để đảm bảo đủ thẩm quyền, thỏa thuận trọng tài phải do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền hợp pháp xác lập; (3) Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản, có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Ngoài ra, còn có các hình thức thỏa thuận cũng được coi là xác lập bằng văn bản đã được quy định tại khoản 2 điều 16 LTTTM; (4) Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, về việc giải quyết bằng trọng tài đối với tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh. Tuy nhiên các bên nên xác lập thỏa thuận trọng tài ngay từ khi xác lập giao dịch, hợp đồng, nhằm tránh trường hợp các bên không thể xác lập thỏa thuận trọng tài được sau khi xảy ra tranh chấp, nói cách khác là không được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khi không có thỏa thuận trọng tài, hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được; (5) Xem xét áp dụng điều khoản trọng tài mẫu của các trung tâm trọng tài, nhằm tránh thỏa thuận trọng tài không thực hiện được. Khoản 5 điều 43 LTTTM quy định: “Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không ghi rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn”; (6) Nhận diện và loại bỏ sáu trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 LTTTM khi xác lập thỏa thuận trọng tài; (7) Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài (điều 19 LTTTM). Tuy nhiên, ngay từ khi đàm phán, giao kết hợp đồng, giao dịch theo hợp đồng phải hợp pháp, không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội, nhằm tránh phán quyết trọng tài bị hủy trong trường hợp hội đồng trọng tài đã giải quyết tranh chấp đối với giao dịch vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”; (8) Tố tụng trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia tố tụng trọng tài với tư cách là nguyên đơn, bị đơn. Tố tụng trọng tài không có đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vì vậy thỏa thuận trọng tài không được quy định việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với bên thứ ba.

Bên cạnh quyền khởi kiện, quyền rút đơn khởi kiện, nguyên đơn còn có quyền sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, bị đơn bên cạnh quyền tự bảo vệ, quyền kiện lại, còn có quyền sửa đổi bổ sung đơn kiện lại, bản tự bảo vệ. Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài có quyền không chấp nhận các sửa đổi, bổ sung này nếu thấy rằng việc đó có thể bị lạm dụng nhằm gây khó khăn, trì hoãn việc ra phán quyết trọng tài hoặc vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp (khoản 2 điều 37 LTTTM).

Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành (Khoản 5 Điều 61 LTTTM), nhưng một bên có quyền: (1) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hoặc (2) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 điều 68 LTTTM, thì có quyền có đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có nghĩa vụ chứng minh, trừ trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo điểm đ khoản 2 điều 68.

Quyền tự định đoạt vẫn được tiến hành ngay cả khi Hội đồng (của Tòa án có thẩm quyền ) xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời gian xem xét đơn, khi có yêu cầu của một bên, có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục thiếu sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài.

Luật sư Bùi Văn Thành – Trưởng Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới

Bài liên quan
Tin bài khác
Bài cuối: Quản trị rủi ro pháp lý trong thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Lộ trình hành động cho doanh nghiệp

Bài cuối: Quản trị rủi ro pháp lý trong thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Lộ trình hành động cho doanh nghiệp

Sau ba bài viết phân tích những vấn đề pháp lý tổng quan, nhận diện các lớp rủi ro cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng, cũng như tác động đến đầu tư, chính sách công nghiệp và quản trị hợp đồng, loạt bài bước sang phần kết với trọng tâm là hành động. Thay vì tiếp cận dưới góc độ chính sách, bài viết tập trung vào những việc doanh nghiệp cần triển khai ngay: phân loại mức độ rủi ro, xây dựng lộ trình tuân thủ theo từng giai đoạn, chuẩn bị các câu hỏi mà ban lãnh đạo phải có lời giải và xác lập tư duy quản trị phù hợp trước những thay đổi trong quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. Đây không chỉ là danh mục kiểm tra về tuân thủ, mà còn là khung tham chiếu giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu, bảo vệ chuỗi cung ứng và duy trì năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn thương mại quốc tế ngày càng khắt khe.
Siết quản lý thuốc thú y, chặn thuốc giả và lạm dụng kháng sinh

Siết quản lý thuốc thú y, chặn thuốc giả và lạm dụng kháng sinh

Trước thực trạng thuốc thú y kém chất lượng, không rõ nguồn gốc và hoạt động kinh doanh trên môi trường trực tuyến diễn biến phức tạp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra toàn diện hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng thuốc thú y, nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bài 4: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và những tác động tới đầu tư, chính sách công nghiệp, quản trị hợp đồng

Bài 4: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và những tác động tới đầu tư, chính sách công nghiệp, quản trị hợp đồng

Tiếp nối ba bài viết trước về những vấn đề pháp lý đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, các lớp rủi ro pháp lý trong hàng hóa và chuỗi cung ứng, cũng như những yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ, bài viết này đi sâu phân tích những tác động trực tiếp của tiến trình đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đối với môi trường đầu tư, chính sách công nghiệp và hoạt động ký kết, thực hiện hợp đồng. Khi các ưu đãi đầu tư, cơ chế trợ cấp, quy định về năng lượng, mua sắm công và thực thi cam kết thương mại ngày càng chịu sự giám sát chặt chẽ, doanh nghiệp không chỉ cần nắm bắt cơ hội mà còn phải chủ động nhận diện và quản trị các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong toàn bộ vòng đời của dự án và giao dịch thương mại.
Đề xuất luật hóa lệnh cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Đề xuất luật hóa lệnh cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Bộ Y tế đề xuất bổ sung quy định cấm sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng ngay trong Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi), đồng thời siết quản lý hoạt động bán thuốc lá và mở rộng các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ nhiều điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán

Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ nhiều điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi các quy định về kế toán, kiểm toán độc lập theo hướng cắt giảm mạnh điều kiện kinh doanh. Đề xuất này nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm thống nhất với các quy định pháp luật mới.
Từ 10/9, doanh nghiệp có thể bị phạt đến 20 triệu đồng nếu vi phạm quyền lợi lao động nữ

Từ 10/9, doanh nghiệp có thể bị phạt đến 20 triệu đồng nếu vi phạm quyền lợi lao động nữ

Nghị định số 283/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/9/2026 bổ sung nhiều chế tài nhằm tăng cường bảo vệ lao động nữ. Theo đó, doanh nghiệp có thể bị phạt từ 10-20 triệu đồng nếu không bảo đảm chế độ nghỉ trong thời gian hành kinh, nghỉ 60 phút mỗi ngày đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc vi phạm các quy định về thai sản, bình đẳng giới.
TP. Hồ Chí Minh nghiên cứu cơ chế "thẻ vàng, thẻ đỏ" với tàu cá vi phạm IUU

TP. Hồ Chí Minh nghiên cứu cơ chế "thẻ vàng, thẻ đỏ" với tàu cá vi phạm IUU

TP. Hồ Chí Minh đang nghiên cứu áp dụng cơ chế quản lý theo hình thức "thẻ vàng, thẻ đỏ" đối với tàu cá vi phạm quy định về chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU). Thành phố đồng thời yêu cầu rút ngắn thời gian xử lý tàu mất kết nối thiết bị giám sát hành trình (VMS) từ 60 ngày xuống còn 5 ngày nhằm tăng hiệu quả quản lý.
Bài 3: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới: Các yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ

Bài 3: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới: Các yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ

Sau khi phân tích bối cảnh pháp lý của quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và nhận diện các lớp rủi ro cốt lõi đối với hàng hóa, chuỗi cung ứng trong hai bài viết trước, vấn đề đặt ra không còn dừng ở thuế quan hay quy tắc xuất xứ. Trong bối cảnh các chuẩn mực thương mại toàn cầu ngày càng mở rộng, doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với một hệ thống yêu cầu tuân thủ mới, từ hàng rào kỹ thuật, an toàn sản phẩm, thương mại số, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ đến lao động, ESG và quản trị rủi ro tài chính. Đây không chỉ là các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ luật quốc gia hay cam kết quốc tế, mà ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường, yêu cầu của hợp đồng và tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhận diện đầy đủ những chuẩn mực này sẽ giúp doanh nghiệp chuyển từ tư duy "tuân thủ để xuất khẩu" sang "tuân thủ để cạnh tranh và phát triển bền vững" trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ và các thị trường có tiêu chuẩn cao.
Tháng 8/2026: Loạt chính sách mới về vay vốn, đất đai, giao thông chính thức có hiệu lực

Tháng 8/2026: Loạt chính sách mới về vay vốn, đất đai, giao thông chính thức có hiệu lực

Từ tháng 8/2026, hàng loạt chính sách mới bắt đầu được triển khai, tập trung vào các lĩnh vực tín dụng, đất đai, giao thông vận tải, chăn nuôi, hoạt động xét xử và kinh doanh hàng miễn thuế. Nhiều quy định được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.
Sau vụ sập tường công trình Giám đốc Công ty TNHH JOYO Việt Nam bị khởi tố

Sau vụ sập tường công trình Giám đốc Công ty TNHH JOYO Việt Nam bị khởi tố

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Giám đốc Công ty TNHH JOYO Việt Nam cùng một cá nhân trực tiếp quản lý thi công để điều tra hành vi vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng sau vụ sập công trình cải tạo cửa hàng làm 1 người tử vong.
Bài 2: Nhận diện các lớp rủi ro pháp lý cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng

Bài 2: Nhận diện các lớp rủi ro pháp lý cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng

Sau khi phân tích những vấn đề pháp lý tổng quan từ kết quả đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới, bài viết tiếp theo đi sâu vào các lớp rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt trong hoạt động xuất khẩu và tổ chức chuỗi cung ứng. Từ thuế đối ứng, quy tắc xuất xứ, chống chuyển tải, phòng vệ thương mại đến rủi ro phát sinh từ các cam kết cân bằng thương mại, đây đều là những yếu tố có thể tác động trực tiếp đến chi phí, hợp đồng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ.
Hàng loạt nhà thầu xây dựng bị bêu tên trong kết luận thanh tra tại dự án sân bay Long Thành

Hàng loạt nhà thầu xây dựng bị bêu tên trong kết luận thanh tra tại dự án sân bay Long Thành

Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra nhiều nhà thầu lớn như Tổng công ty 36, Fecon, Newtecons, Ricons, Vinaconex, Hancorp... có các vi phạm trong quá trình thực hiện gói thầu tại sân bay Long Thành, nổi bật là hành vi chuyển nhượng thầu trái quy định.
Đề xuất phân cấp mạnh trong kinh doanh bất động sản, chuyển nhiều thẩm quyền về địa phương

Đề xuất phân cấp mạnh trong kinh doanh bất động sản, chuyển nhiều thẩm quyền về địa phương

Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) đề xuất đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm nhiều thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, trong đó chuyển thẩm quyền quyết định chuyển nhượng dự án từ Thủ tướng Chính phủ về UBND cấp tỉnh nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản vận hành minh bạch, hiệu quả.
Sửa Luật Đất đai: Nhà nước quyết định giá đất, bảo đảm một cơ chế giá thống nhất

Sửa Luật Đất đai: Nhà nước quyết định giá đất, bảo đảm một cơ chế giá thống nhất

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết việc sửa Luật Đất đai sẽ theo hướng Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất khi đưa vào sử dụng, đồng thời đổi mới chính sách bồi thường, tái định cư theo hướng bảo đảm cuộc sống người dân sau thu hồi đất.
Doanh nghiệp chiếm hơn 97% số nợ thuế bị công khai tại Phú Thọ

Doanh nghiệp chiếm hơn 97% số nợ thuế bị công khai tại Phú Thọ

Thuế cơ sở 10 tỉnh Phú Thọ vừa công khai danh sách 677 người nộp thuế còn nợ hơn 53,65 tỷ đồng tính đến ngày 30/6/2026, trong đó khối doanh nghiệp chiếm phần lớn số nợ.