Thứ ba 06/10/2026 23:09
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Một số quyền của các bên trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Luật trọng tài Việt Nam

13/06/2021 20:29
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM). Do đề cao quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên, minh bạch, linh hoạt, thân thiện,

Việc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đảm bảo cho việc doanh nghiệp lựa chọn giải quyết bằng phương thức trọng tài được hiệu quả. Bài viết này đề cập về một số quyền của các bên trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên xuyên suốt, chi phối trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp bằng tố tụng trọng tài, được thể hiện trong LTTTM và/hoặc trong quy tắc tố tụng trọng tài của các trung tâm trọng tài. Cụm từ “do các bên thỏa thuận”, “nếu các bên thỏa thuận”, “do các bên lựa chọn”, “trường hợp các bên đã có thỏa thuận”, “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”...xuất hiện trong nhiều điều khoản của LTTTM. Theo đó, các bên có quyền thỏa thuận về việc lập thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi xảy tranh chấp, lựa chọn trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên, thành phần hội đồng trọng tài, hình thức trọng tài (quy chế hoặc vụ việc), ngôn ngữ, địa điểm, luật áp dụng trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài, phiên họp giải quyết tranh chấp, thành phần thủ tục phiên họp giải quyết tranh chấp…. Khoản 1 Điều 4 LTTTM quy định rõ: “Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”. Điều 6 LTTTM quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”.

Để được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, trước hết các bên phải có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và có thể thực hiện được. Theo đó, cần lưu ý một số nội dung sau: (1) Đối tượng giải quyết của thỏa thuận trọng tài là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài; (2) Người xác lập thỏa thuận trọng tài phải có đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 điều 12 Luật doanh nghiệp 2020, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Do đó để đảm bảo đủ thẩm quyền, thỏa thuận trọng tài phải do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền hợp pháp xác lập; (3) Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản, có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Ngoài ra, còn có các hình thức thỏa thuận cũng được coi là xác lập bằng văn bản đã được quy định tại khoản 2 điều 16 LTTTM; (4) Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, về việc giải quyết bằng trọng tài đối với tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh. Tuy nhiên các bên nên xác lập thỏa thuận trọng tài ngay từ khi xác lập giao dịch, hợp đồng, nhằm tránh trường hợp các bên không thể xác lập thỏa thuận trọng tài được sau khi xảy ra tranh chấp, nói cách khác là không được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khi không có thỏa thuận trọng tài, hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được; (5) Xem xét áp dụng điều khoản trọng tài mẫu của các trung tâm trọng tài, nhằm tránh thỏa thuận trọng tài không thực hiện được. Khoản 5 điều 43 LTTTM quy định: “Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không ghi rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn”; (6) Nhận diện và loại bỏ sáu trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 LTTTM khi xác lập thỏa thuận trọng tài; (7) Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài (điều 19 LTTTM). Tuy nhiên, ngay từ khi đàm phán, giao kết hợp đồng, giao dịch theo hợp đồng phải hợp pháp, không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội, nhằm tránh phán quyết trọng tài bị hủy trong trường hợp hội đồng trọng tài đã giải quyết tranh chấp đối với giao dịch vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”; (8) Tố tụng trọng tài chỉ giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia tố tụng trọng tài với tư cách là nguyên đơn, bị đơn. Tố tụng trọng tài không có đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vì vậy thỏa thuận trọng tài không được quy định việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với bên thứ ba.

Bên cạnh quyền khởi kiện, quyền rút đơn khởi kiện, nguyên đơn còn có quyền sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, bị đơn bên cạnh quyền tự bảo vệ, quyền kiện lại, còn có quyền sửa đổi bổ sung đơn kiện lại, bản tự bảo vệ. Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài có quyền không chấp nhận các sửa đổi, bổ sung này nếu thấy rằng việc đó có thể bị lạm dụng nhằm gây khó khăn, trì hoãn việc ra phán quyết trọng tài hoặc vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp (khoản 2 điều 37 LTTTM).

Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành (Khoản 5 Điều 61 LTTTM), nhưng một bên có quyền: (1) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hoặc (2) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 điều 68 LTTTM, thì có quyền có đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có nghĩa vụ chứng minh, trừ trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo điểm đ khoản 2 điều 68.

Quyền tự định đoạt vẫn được tiến hành ngay cả khi Hội đồng (của Tòa án có thẩm quyền ) xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời gian xem xét đơn, khi có yêu cầu của một bên, có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục thiếu sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài.

Luật sư Bùi Văn Thành – Trưởng Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới

Bài liên quan
Tin bài khác
Hé lộ pháp nhân đứng sau vụ sản xuất hàng triệu lọ C sủi giả cho trẻ em

Hé lộ pháp nhân đứng sau vụ sản xuất hàng triệu lọ C sủi giả cho trẻ em

Sản phẩm C sủi giả do Công ty Vintechpharm được tiêu thụ thông qua các quầy thuốc và các nền tảng thương mại điện tử như TikTok Shop, Shopee. Các sản phẩm được quảng cáo với những công dụng như tăng sức đề kháng, hỗ trợ thải độc, làm mát gan và có nhóm đối tượng sử dụng là trẻ em.
Mở thêm dư địa ưu đãi cho các mỏ dầu khí khó khai thác

Mở thêm dư địa ưu đãi cho các mỏ dầu khí khó khai thác

Một loạt cơ chế mới đang được Bộ Công Thương đề xuất nhằm tăng khả năng khai thác những mỏ, lô dầu khí có điều kiện khó khăn hoặc hiệu quả kinh tế chưa đạt yêu cầu. Đáng chú ý, chính sách ưu đãi được gắn với thẩm định hiệu quả, hạch toán riêng chi phí và cơ chế bảo đảm lợi ích của Nhà nước.
Rủi ro của doanh nghiệp, nhìn từ pháp đình TP. Hồ Chí Minh

Rủi ro của doanh nghiệp, nhìn từ pháp đình TP. Hồ Chí Minh

Số vụ việc Tòa án nhân dân hai cấp TP. Hồ Chí Minh thụ lý trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng mạnh so với cùng kỳ. Trong đó có nhiều tranh chấp liên quan hợp đồng, tín dụng, tài sản, phá sản và sở hữu trí tuệ, những vấn đề gắn trực tiếp với hoạt động doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.
Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Bộ Tài chính đề xuất áp thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, không áp dụng hạn mức. Nếu được thông qua, mức thuế này sẽ cao gần 7 lần thuế suất 0,03% đang áp dụng đối với đất ở trong hạn mức.
65/188 thủ tục trên Cổng thông tin một cửa quốc gia được phân cấp về địa phương

65/188 thủ tục trên Cổng thông tin một cửa quốc gia được phân cấp về địa phương

Thông tin từ Cục Hải quan, 65 trong tổng số 188 thủ tục hành chính thuộc phạm vi dự án Mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia và kết nối cơ chế một cửa ASEAN (giai đoạn 3) được xác định đã phân cấp từ Trung ương về địa phương.
Quản chặt hoạt động vay, cho vay chứng khoán từ tháng 11

Quản chặt hoạt động vay, cho vay chứng khoán từ tháng 11

Thông tư 145/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định rõ cơ chế tổ chức, quản lý hoạt động vay và cho vay chứng khoán, trong đó yêu cầu bên vay phải có tài sản bảo đảm với giá trị tối thiểu bằng 110% giá trị khoản vay.
Quy định mới và lộ trình áp dụng chuẩn cho trụ, trạm sạc xe điện

Quy định mới và lộ trình áp dụng chuẩn cho trụ, trạm sạc xe điện

Bộ Công Thương vừa ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trụ sạc, trạm sạc xe điện, lần đầu đặt ra hệ thống yêu cầu đồng bộ về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, hạ tầng, đo đếm, quản lý phụ tải và dữ liệu vận hành. Quy chuẩn sẽ chính thức được áp dụng từ ngày 1/7/2027.
“Pháp luật về thuế M&A”, cẩm nang pháp lý cho các thương vụ mua bán, sáp nhập

“Pháp luật về thuế M&A”, cẩm nang pháp lý cho các thương vụ mua bán, sáp nhập

Cuốn sách “Pháp luật về thuế M&A” của ThS. Luật sư, Chuyên gia thuế, Trọng tài viên Nguyễn Văn Được hệ thống hóa những vấn đề pháp lý và thực tiễn về thuế trong các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, hướng tới doanh nghiệp, luật sư, chuyên gia tài chính, kế toán và cơ quan quản lý.
Tuyên Quang: Đưa trách nhiệm pháp lý vào từng chuyến xe vận tải hành khách trên Quốc lộ 4C

Tuyên Quang: Đưa trách nhiệm pháp lý vào từng chuyến xe vận tải hành khách trên Quốc lộ 4C

An toàn của một chuyến xe không chỉ phụ thuộc vào thao tác của người cầm lái. Phía sau vô-lăng còn là trách nhiệm kiểm tra phương tiện, bố trí lịch trình, quản lý thời gian lái xe và giám sát hoạt động vận tải của doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ phương tiện.
Hải quan siết quản lý rủi ro, tuân thủ trở thành lợi thế của doanh nghiệp

Hải quan siết quản lý rủi ro, tuân thủ trở thành lợi thế của doanh nghiệp

Khi quản lý hải quan ngày càng dựa trên dữ liệu và rủi ro, lịch sử chấp hành pháp luật không còn chỉ để tránh xử phạt. Tuân thủ tốt có thể giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu giảm tỷ lệ kiểm tra, rút ngắn thời gian thông quan và tiết giảm chi phí vận hành.
Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Bộ Xây dựng quy định thời hạn chậm nhất 10 ngày làm việc để xử lý hồ sơ chấp thuận hoạt động khảo sát, thăm dò, xây dựng công trình trên tuyến hàng hải, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Quy định mới giúp doanh nghiệp chủ động hơn về tiến độ thủ tục.
Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Bộ Công Thương đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 10 mặt hàng nội địa được giao dịch qua Sở Giao dịch hàng hóa, với khối lượng khoảng 8-10 triệu hợp đồng mỗi năm; thu hút 300-500 doanh nghiệp tham gia thị trường.
Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Bộ Công Thương đề xuất cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn, quản lý và vận hành hạ tầng chợ thông qua liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam, với tỷ lệ góp vốn tối đa 49% vốn điều lệ.
Tờ khai TNCN đã được tiếp nhận, cá nhân nước ngoài có phải nộp lại?

Tờ khai TNCN đã được tiếp nhận, cá nhân nước ngoài có phải nộp lại?

Với cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam, trực tiếp khai thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công do tổ chức ở nước ngoài chi trả, việc chuyển cơ quan thuế quản lý từ ngày 1/7/2026 có thể làm phát sinh yêu cầu xử lý lại hồ sơ đã nộp. Quy định chuyển tiếp của Thông tư 89/2026/TT-BTC và dữ liệu tiếp nhận trên hệ thống thuế là những căn cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ của người nộp thuế.
Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 373/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026, quy định việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Quy định mới xác lập rõ đối tượng, nguyên tắc, tiêu chí và hình thức chuyển đổi, trong đó đặt điều kiện quan trọng về khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên của đơn vị trong 2 năm gần nhất.