![]() |
| Giá thép hôm nay 1/6/2026: Biến động trái chiều, Việt Nam gom kỷ lục thép Trung Quốc |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 1/6/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.020 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.800 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.700 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.050 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.920 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.820 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.820 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 13.530 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.540 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 1/6, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.173 CNY/tấn. |
Thị trường nguyên liệu và thép thành phẩm thế giới bước vào phiên giao dịch đầu tuần mới với những tín hiệu giằng co và phân hóa rõ rệt. Ghi nhận vào đầu ngày 1/6, hợp đồng thép thanh giao tháng 7/2026 trên Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải nhích nhẹ 0,2%, tương đương tăng thêm 6 nhân dân tệ, đạt mức 3.175 nhân dân tệ/tấn. Ngược lại, tại Sàn Đại Liên, giá quặng sắt giao cùng kỳ hạn lại điều chỉnh giảm 0,3%, đánh mất 2,5 nhân dân tệ về còn 792,5 nhân dân tệ/tấn. Cùng thời điểm này, sàn Singapore chứng kiến giá quặng sắt kỳ hạn tháng 7/2026 tăng thêm 0,3 USD, neo ở mốc 105 USD/tấn. Sự biến động trong biên độ hẹp này phản ánh tâm lý thận trọng của giới đầu tư khi biên lợi nhuận của các nhà máy sản xuất vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Đối với phân khúc thép không gỉ, số liệu từ cơ quan hải quan Trung Quốc cho thấy hoạt động thương mại của nước này suy giảm mạnh trong 4 tháng đầu năm 2026. Cụ thể, lượng thép không gỉ xuất khẩu đạt 1,19 triệu tấn, sụt giảm tới 28,5% so với giai đoạn cùng kỳ. Ở chiều mua vào, Trung Quốc cũng giảm 7,8% khối lượng nhập khẩu sản phẩm này, đạt mức 545.700 tấn. Riêng tính trong tháng 4, quốc gia này xuất khẩu được 394.300 tấn thép không gỉ, dù tăng trưởng 27,1% so với tháng liền trước nhưng nếu so với tháng 4 năm ngoái thì vẫn giảm 11,9%.
Đáng chú ý, Việt Nam tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc ở mốc thời gian này khi nhập khẩu khoảng 66.000 tấn thép không gỉ trong tháng 4, đánh dấu khối lượng mua theo tháng cao thứ hai trong lịch sử. Xếp sau đó là Ấn Độ với 36.000 tấn, chạm mức đỉnh trong vòng 19 tháng sau động thái gia hạn miễn trừ chứng nhận chất lượng BIS cho một số mặt hàng của chính phủ nước này. Tại khu vực Trung Đông, lượng hàng đón nhận từ Trung Quốc tăng mạnh 45,7% so với tháng 3, đạt gần 43.000 tấn nhờ những tín hiệu tích cực từ việc hạ nhiệt căng thẳng địa chính trị giúp giao thương hồi phục. Ở mảng nguyên liệu tái chế, Trung Quốc đã tăng gom phế liệu thép không gỉ lên tới 91,9% trong 4 tháng đầu năm, cán mốc 61.200 tấn.
Bức tranh tổng thể của thị trường thép toàn cầu trong thời gian tới vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực do sức mua từ các thị trường quốc tế có dấu hiệu chậm lại. Minh chứng là trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thép cán của Trung Quốc đã sụt giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước, chỉ còn duy trì ở mức 34,2 triệu tấn. Xu hướng giảm này thể hiện rõ trong tháng 4 khi khối lượng xuất khẩu đạt 9,5 triệu tấn, mất đi 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Dù xuất khẩu thép thành phẩm gặp khó khăn, nguồn cung sản xuất tại các nhà máy Trung Quốc dự kiến vẫn duy trì ở mức cao. Điều này được thể hiện qua việc quốc gia này tăng cường nhập khẩu quặng sắt thêm 8% trong 4 tháng đầu năm, tích lũy tổng cộng 418,6 triệu tấn nguyên liệu. Nhu cầu dự trữ và sản xuất phôi nội địa lớn, kết hợp với biên lợi nhuận thấp và sức tiêu thụ suy yếu tại nhiều khu vực, được dự báo sẽ tiếp tục tạo ra các phiên giằng co, phân hóa về giá giữa các mặt hàng thép và nguyên liệu thô trong ngắn hạn.