Dù dòng tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục được thúc đẩy nhằm hỗ trợ tăng trưởng, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận vốn ngân hàng. Thực tế này cho thấy bài toán vốn của khu vực tư nhân không chỉ nằm ở quy mô tín dụng, mà còn ở cách thức phân bổ và điều kiện tiếp cận nguồn vốn.
Tài sản thế chấp vẫn là rào cản lớn
Theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt với khoảng thiếu hụt tài chính lớn mỗi năm. Nhu cầu vốn của doanh nghiệp còn rất cao, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được các điều kiện vay vốn hiện nay.
Các dữ liệu được công bố tại diễn đàn cho thấy tiếp cận tài chính vẫn là trở ngại đáng kể đối với doanh nghiệp Việt Nam. Theo khảo sát của World Bank Enterprise Surveys, có 21,2% doanh nghiệp Việt Nam xem tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất, cao hơn so với 15,6% tại Malaysia và 7,7% tại Thái Lan.
Một điểm nghẽn nổi bật là yêu cầu về tài sản bảo đảm. Theo PCI 2025, có tới 93,5% khoản vay tại Việt Nam yêu cầu tài sản thế chấp. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với 33,4% tại Malaysia và 55,8% tại Thái Lan.
![]() |
| Doanh nghiệp nhỏ rất khó vay vốn. Ảnh: Minh họa |
Không chỉ vậy, 75,5% doanh nghiệp cho biết họ không thể vay vốn nếu không có tài sản bảo đảm, trong khi 54,2% doanh nghiệp đánh giá việc vay vốn không có tài sản thế chấp là rất khó khăn. Những con số này phản ánh thực tế tín dụng ngân hàng tại Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tài sản bảo đảm, thay vì đánh giá sâu hơn về dòng tiền, năng lực quản trị, mô hình kinh doanh hay triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Điều này tạo ra bất lợi rõ rệt cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi nhóm này thường thiếu tài sản hữu hình để thế chấp. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh tốt, có khả năng đổi mới sáng tạo hoặc tiềm năng mở rộng thị trường nhưng vẫn khó tiếp cận vốn do chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm truyền thống.
Doanh nghiệp chịu thêm áp lực từ lãi suất và thủ tục
Bên cạnh tài sản thế chấp, chi phí vốn và thủ tục vay cũng là những rào cản đáng kể. Có 56,3% doanh nghiệp cho rằng điều kiện vay vốn và lãi suất đối với khu vực tư nhân còn khó khăn hơn so với doanh nghiệp nhà nước. Khoảng 46,1% doanh nghiệp phản ánh tổ chức tín dụng áp đặt các điều kiện bất lợi, trong khi 45% doanh nghiệp cho rằng thủ tục vay vốn vẫn còn phiền hà.
Theo các chuyên gia, các con số trên cho thấy khó khăn về vốn của khu vực tư nhân không còn là vấn đề ngắn hạn, mà mang tính cấu trúc. Nếu không có cơ chế tháo gỡ phù hợp, khoảng cách tiếp cận vốn giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ sẽ tiếp tục kéo dài.
Trong bối cảnh Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, yêu cầu giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, thúc đẩy cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và chuỗi giá trị đang trở nên cấp thiết hơn.
Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Ngân hàng Doanh nghiệp HDBank, cho rằng khoảng cách giữa hồ sơ tài chính trên giấy tờ và năng lực tài chính thực tế của doanh nghiệp là nguyên nhân khiến các ngân hàng phải thận trọng khi cấp tín dụng.
Theo ông Phương, báo cáo tài chính có kiểm toán mới là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là chất lượng số liệu, mức độ minh bạch, cấu trúc tài chính và khả năng quản trị dòng tiền của doanh nghiệp.
Một thực tế khác được nêu ra là nhiều doanh nghiệp đang sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao, thậm chí kỳ vọng ngân hàng tài trợ tới 70 - 75% nhu cầu vốn. Trong khi đó, theo thông lệ quản trị rủi ro thận trọng, tỷ lệ cho vay an toàn thường được xem xét ở mức khoảng 50%.
Các chuyên gia cảnh báo việc sử dụng vốn ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn, như đầu tư máy móc hoặc tài sản cố định, có thể khiến doanh nghiệp mất cân đối tài chính. Khi dòng tiền không ổn định, rủi ro thanh khoản tăng lên và khả năng trả nợ cũng bị ảnh hưởng.
Vì vậy, để giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, doanh nghiệp cần cải thiện năng lực quản trị tài chính, minh bạch hóa báo cáo, sử dụng vốn đúng mục đích và xây dựng dòng tiền đủ tin cậy. Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng có thể chuyển dần từ mô hình cho vay dựa vào tài sản bảo đảm sang mô hình đánh giá dựa trên năng lực kinh doanh.
Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê thuộc Ngân hàng Nhà nước, cho rằng việc khơi thông dòng vốn cần được thực hiện theo hướng hài hòa giữa hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.
Theo đó, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh vốn quan trọng, nhưng không thể là nguồn vốn duy nhất cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa nguồn lực thông qua thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hợp tác công - tư và các hình thức huy động vốn phù hợp khác.
Về phía ngành ngân hàng, chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được điều hành linh hoạt, hướng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Một tín hiệu tích cực là các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đang cho thấy hiệu quả nhất định. Theo PCI 2025, có 73,6% doanh nghiệp đánh giá các chương trình kết nối này ở mức “hiệu quả” hoặc “rất hiệu quả”.
Điều đó cho thấy dư địa cải thiện khả năng tiếp cận vốn vẫn còn lớn, nếu các chương trình kết nối được triển khai thực chất hơn, gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp và khả năng thẩm định linh hoạt hơn từ phía ngân hàng.