Theo Công văn 1705/BYT-ATTP của Bộ Y tế Việt Nam, đến nay cơ quan này đã tiếp nhận ý kiến góp ý từ 25 bộ, ngành, địa phương cùng 40 hiệp hội, doanh nghiệp và đại sứ quán. Các ý kiến tập trung vào yêu cầu giảm chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, nhập khẩu nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát an toàn thực phẩm.
Trên cơ sở tổng hợp, Bộ Y tế cùng các bộ, ngành liên quan thống nhất đề xuất sửa đổi 15/55 điều của Nghị định 46, chủ yếu liên quan đến kiểm tra nhà nước và thủ tục hành chính.
![]() |
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất thu hẹp phạm vi kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng nhập khẩu, chỉ áp dụng với các sản phẩm chưa kiểm soát được tiêu chuẩn chất lượng và mức độ an toàn của sản phẩm cuối cùng.
Bên cạnh đó, nhiều trường hợp được đề xuất miễn kiểm tra như: nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất nội bộ; hàng hóa qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh thuộc diện miễn thuế; hàng xuất nhập khẩu tại chỗ; giao dịch giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất hoặc trong khu phi thuế quan.
Đáng chú ý, Bộ Y tế đề xuất chấp nhận kết quả kiểm nghiệm của nước ngoài đối với các sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố, thay vì yêu cầu kiểm nghiệm lại. Quy định này được kỳ vọng giúp rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp và tiệm cận thông lệ quốc tế.
Để giải quyết tình trạng một lô hàng chịu quản lý của nhiều cơ quan, Bộ Y tế đề xuất giao UBND cấp tỉnh chỉ định một đầu mối thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm.
Đối với nhóm hàng dễ hư hỏng như nông sản, thủy sản, việc phối hợp giữa kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm hiện vẫn thiếu hướng dẫn thống nhất từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam, cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.
Ngoài ra, một số quy định cũng được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, như truy xuất nguồn gốc phù hợp thực tiễn, không bắt buộc doanh nghiệp duy trì hệ thống dữ liệu phức tạp nhưng vẫn hướng tới kết nối với cơ sở dữ liệu của cơ quan quản lý. Quy định về ghi nhãn sản phẩm cũng được làm rõ nhằm tránh cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Đồng thời, bổ sung các trường hợp không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở áp dụng hệ thống sản xuất tiên tiến.
Đối với Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP, các bộ, ngành đề xuất sửa đổi 2/16 điều, tập trung vào quy định về công bố hợp quy và kiểm nghiệm.
Cụ thể, bổ sung trường hợp miễn đăng ký bản công bố hợp quy đối với sản phẩm không tiêu thụ tại thị trường Việt Nam nhằm giảm thủ tục hành chính. Đồng thời, quy định về phiếu kết quả kiểm nghiệm được điều chỉnh theo hướng mở, chỉ quy định các nội dung tối thiểu để công nhận kết quả từ các phòng thử nghiệm nước ngoài đạt chuẩn.
Theo Bộ Y tế, các điều chỉnh này nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Luật An toàn thực phẩm 2010 so với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Trên cơ sở đó, Bộ Y tế kiến nghị Chính phủ cho phép tạm ngưng hiệu lực và lùi thời điểm áp dụng Nghị định 46 cùng Nghị quyết 66.13 thêm 3 tháng, đến hết ngày 15/7/2026.
Trong thời gian này, Bộ sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan sửa đổi, bổ sung các quy định theo thủ tục rút gọn, tập trung xử lý những nội dung phát sinh vướng mắc. Một số nội dung cần lộ trình dài hơn sẽ được kéo dài hiệu lực, như thời hạn hoạt động của cơ quan kiểm tra và cơ sở kiểm nghiệm đến ngày 31/10/2026.
Động thái này được kỳ vọng tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp có thêm thời gian chuẩn bị nguồn lực, bảo đảm việc triển khai chính sách diễn ra đồng bộ, hiệu quả và khả thi hơn trong thực tiễn.