Theo số liệu công bố, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước, tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm 2025; lạm phát cơ bản tăng 3,89%.
Trong mức tăng 0,84% của CPI tháng 4, có tới 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ ghi nhận tăng giá, trong đó nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng mạnh nhất với mức 2,59%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm vào CPI chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá gas trong nước tăng tới 35,3% theo biến động giá nhiên liệu thế giới; cùng với đó là giá dầu hỏa, vật liệu xây dựng, điện, nước và chi phí thuê nhà đều tăng.
Một số nhóm hàng khác cũng ghi nhận mức tăng đáng kể như đồ uống và thuốc lá tăng 0,85% do chi phí nhập khẩu và sản xuất tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,78% do chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,63% khi nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng gia tăng.
![]() |
| CPI tăng 3,99% sau 4 tháng, áp lực giá chủ yếu đến từ năng lượng và chi phí đầu vào |
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,58%, trong đó đáng chú ý là giá ăn uống ngoài gia đình tăng 1,94%, phản ánh chi phí dịch vụ và nguyên liệu đầu vào tăng. Nhóm may mặc, giày dép tăng 0,52% do chi phí sản xuất và vận chuyển tăng.
Ngoài ra, các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác như thuốc và dịch vụ y tế, giáo dục, thông tin và truyền thông cũng ghi nhận mức tăng nhẹ, chủ yếu do điều chỉnh chi phí đầu vào và giá dịch vụ.
Trái chiều với xu hướng chung, nhóm giao thông giảm 0,81%, góp phần làm giảm CPI chung 0,08 điểm phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng giảm 3,19% theo giá thế giới. Tuy nhiên, một số yếu tố trong nhóm này vẫn tăng như giá dầu diesel, dịch vụ vận tải công cộng, bảo dưỡng phương tiện… cho thấy áp lực chi phí vận tải chưa hoàn toàn hạ nhiệt.
Tính chung 4 tháng đầu năm, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có mức tăng cao nhất (6,25%), tiếp đến là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,71%, hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,89% và giao thông tăng 3,48%. Một số nhóm có mức tăng thấp hơn như may mặc, thiết bị gia đình, văn hóa – du lịch; riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm nhẹ 0,09%.
Lạm phát cơ bản tháng 4 tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng, lạm phát cơ bản tăng 3,89%, thấp hơn mức tăng CPI chung, phản ánh tác động đáng kể của các yếu tố biến động mạnh như xăng dầu, gas và thực phẩm đến mặt bằng giá chung.
Thị trường vàng trong tháng 4 biến động cùng chiều với giá thế giới. Bình quân đến ngày 28/4/2026, giá vàng thế giới ở mức 4.761,71 USD/ounce, giảm 2,4% so với tháng trước do áp lực chốt lời sau giai đoạn tăng mạnh. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 4 giảm 6,71% so với tháng trước. Tuy vậy, so với cùng kỳ năm trước, giá vàng vẫn tăng tới 54,24% và bình quân 4 tháng tăng 75,13%.
Trong khi đó, giá đô la Mỹ trong nước diễn biến ngược chiều với thị trường quốc tế. Chỉ số USD quốc tế bình quân tháng 4 đạt 98,63 điểm, giảm 0,73% so với tháng trước trong bối cảnh kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất. Ngược lại, trong nước, giá USD bình quân trên thị trường tự do ở mức khoảng 26.360 VND/USD. Chỉ số giá USD tháng 4 tăng 0,17% so với tháng trước và tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 4 tháng tăng 2,29%.
Nhìn tổng thể, diễn biến giá cả trong những tháng đầu năm 2026 cho thấy lạm phát vẫn đang được kiểm soát dưới ngưỡng mục tiêu, song áp lực từ giá năng lượng, chi phí đầu vào và dịch vụ tiêu dùng vẫn hiện hữu. Điều này đòi hỏi công tác điều hành giá cần tiếp tục linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định mặt bằng giá, hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế bền vững.