Thứ ba 07/07/2026 10:26
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Công việc sẽ thay đổi thế nào trong tương lai sau làn sóng nghỉ việc hàng loạt?

22/08/2022 16:13
Đã gần ba năm kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, tuy nỗi sợ virus SARS-CoV-2 có thể đã thuyên giảm, nhiều thách thức khác vẫn đang lớn dần lên.

Các chuyên gia gợi ý nên đầu tư vào nơi làm việc kỹ thuật số và thiết kế lại văn phòng để phù  hợp hơn với cách làm việc linh hoạt.

Các chuyên gia gợi ý nên đầu tư vào nơi làm việc kỹ thuật số và thiết kế lại văn phòng để phù hợp hơn với cách làm việc linh hoạt.

Trong giai đoạn giãn cách xã hội, mọi người phải làm việc ở nhà nhiều hơn. Thời gian làm việc tăng cùng với việc thiếu sự hỗ trợ trực tiếp khiến nhiều người lao động cảm thấy kiệt sức, tạo ra làn sóng nghỉ việc hàng loạt – “Great Resignation”. Một nghiên cứu toàn cầu của Microsoft vào năm 2021 cho thấy có hơn 40% lực lượng lao động cân nhắc tới chuyện nghỉ việc.

Vậy, câu hỏi đặt ra là: Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Công việc trong tương lai sẽ thế nào? Chốn công sở liệu còn giống như nơi chúng ta từng làm việc trước kia?

Các diễn giả tại Diễn đàn Nhân sự RMIT-Deloitte 2022.
Các diễn giả tại Diễn đàn Nhân sự RMIT-Deloitte 2022.

Tại Diễn đàn Nhân sự RMIT-Deloitte 2022 vừa qua, ông Mark Teoh, Giám đốc điều hành Deloitte Consulting, đã đưa ra bốn kịch bản có thể xảy ra:

Đầu tiên, nhân sự có thể làm việc theo mô hình hợp tác tại cùng một địa điểm. Với mô hình này, công việc được thực hiện thông qua mạng lưới các nhóm linh hoạt, tập trung vào mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ mà khách hàng giao phó. Các nhóm này hiệu quả hơn cả khi có mặt ở cùng một địa điểm, làm việc trực tiếp cùng nhau, và sử dụng các công cụ và nền tảng kỹ thuật số để kết nối với đồng nghiệp ở xa khi cần thiết. Nhân viên làm việc tốt nhất khi ở văn phòng, với đầy đủ các công cụ trong tầm tay và đồng nghiệp ở chung một múi giờ.

Thứ hai, người lao động có thể làm việc với mức độ tự chủ và cá nhân hóa cao hơn. Các tổ chức cung cấp cho nhân viên nhiều lựa chọn hơn, cho phép họ làm việc độc lập và linh hoạt trên tất cả các khía cạnh, qua đó tạo ra các nhóm với tính tự chủ cao. Nhân viên làm việc trên các mạng lưới linh hoạt trong môi trường ảo hoặc môi trường kết hợp trực tuyến-trực tiếp. Các nhóm làm việc hòa hợp với nhau và có quy chuẩn rõ ràng về phương pháp làm việc.

Thứ ba, một số tổ chức có thể áp dụng cách tiếp cận ổn định, an toàn và hòa đồng hơn. Họ duy trì tính ổn định về thời gian, cách thức và địa điểm hoàn thành công việc – giống như trạng thái “bình thường cũ”. Người lao động tập trung vào thực hiện nhiệm vụ thuộc đơn vị chức năng của mình theo mô hình phân cấp truyền thống. Họ ưu tiên làm việc tại văn phòng để sử dụng các thiết bị và công cụ chung và để kết nối trực tiếp với nhau.

Cuối cùng, tổ chức có thể đưa ra các tùy chọn về thời gian và địa điểm làm việc. Công việc được thực hiện thông qua cấu trúc truyền thống dựa trên chức năng nhiệm vụ, nhưng cho phép nhiều lựa chọn về địa điểm và thời gian làm việc. Các tổ chức này sẽ tập trung vào đầu ra và kết quả làm việc của nhân viên, thay vì thời gian làm việc. Người lao động trong các tổ chức này cảm thấy thoải mái với cách làm việc kết hợp trực tuyến-trực tiếp.

Ông Mark Teoh nhấn mạnh:“Mỗi nghề nghiệp phù hợp với một mô hình khác nhau” và “các công việc dựa nhiều vào công nghệ và tri thức có thể phù hợp hơn với mô hình tự chủ và cá nhân hóa”.

Ông Yun-Han Lee, Giám đốc tư vấn Nguồn nhân lực tại Deloitte, gợi ý các tổ chức cần hình dung lại công việc, nơi làm việc và lực lượng lao động của mình để thích ứng với tương lai sau đại dịch. Ví dụ, lãnh đạo và người sử dụng lao động nên tập trung nhiều hơn vào giá trị công việc, tăng cường công nghệ trong công việc và hợp tác dựa trên các giải pháp công nghệ có sẵn, thay vì chỉ tập trung vào kết quả đầu ra và áp dụng rộng rãi công cụ CNTT mà không có kết nối hiệu quả với yếu tố con người.

Ông Lee cũng cho biết: “Việc đầu tư vào nơi làm việc kỹ thuật số và thiết kế lại văn phòng để phù hợp hơn với cách làm việc linh hoạt sẽ nâng cao trải nghiệm của nhân viên trong quá trình chuyển đổi này”. Ông cũng cho rằng, cần thiết phải xem xét lại những kỹ năng và kiến ​​thức con người cần cho làn sóng chuyển đổi kỹ thuật số mới và chuyển đổi trong của bản chất tổ chức.

Đồng tình với ý kiến trên, Giáo sư Andrew R. Timming, Phó trưởng khoa Quản trị phụ trách Nghiên cứu và Đổi mới tại Đại học RMIT Australia, đề xuất nên có thêm nhiều tổ chức đầu tư vào thực tế ảo (VR) và các giải pháp như Metaverse để kết nối người lao động với công việc ảo. Qua đó có thể tạo ra nơi làm việc kiểu mới – không có văn phòng truyền thống và giảm đáng kể chi phí duy trì và phát triển không gian văn phòng ở những vị trí đắc địa.

Tuy nhiên, Giáo sư Claire Macken, Quyền Giám đốc cấp cao (phụ trách đào tạo và sinh viên) Đại học RMIT Việt Nam, cũng chia sẻ một số quan ngại về phương thức làm việc kết hợp và làm việc hoàn toàn từ xa. Bà nhấn mạnh, có những tương tác rất quan trọng giữa người với người – có tác dụng tạo dựng niềm tin và khó có thể bị công nghệ sao chép hoàn toàn trong tương lai gần. Một số tổ chức, chẳng hạn như trong ngành công nghiệp chế tạo, cũng không thể chấp nhận hoàn toàn các mô hình làm việc linh hoạt và kết hợp. Vì vậy, Giáo sư Macken cho rằng, điều quan trọng là phải ghi nhớ giá trị cốt lõi của tương tác giữa người với người – đó là gia tăng giá trị cho các tổ chức và xã hội.

Phó Giáo sư Seng Kiat Kok, Phó trưởng khoa Kinh doanh và Quản trị (phụ trách học tập và giảng dạy) tại Đại học RMIT Việt Nam, gợi ý rằng điều tối quan trọng đối với tương lai của công việc là tạo dựng môi trường hòa nhập nơi mọi người đều được xem xét đến.

“Điều này có nghĩa là các tiến bộ công nghệ, cơ sở hạ tầng hoặc thậm chí các chính sách về làm việc linh hoạt cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho cả cộng đồng nhân viên. Thông thường, nhân viên khuyết tật sẽ bị bỏ qua trong những thay đổi này. Chúng ta cần phải chủ động xem xét nhu cầu của họ vì đóng góp của họ cho tổ chức là không hề nhỏ. Chuyển đổi kỹ thuật số phải đi đôi với tư duy bao hàm như vậy".

Tại diễn đàn, hầu hết các diễn giả cho rằng mô hình làm việc kết hợp trực tuyến-trực tiếp sẽ tiếp tục tồn tại ít nhất một thời gian nữa. Do đó, cần sử dụng các công nghệ sẵn có để tạo sự hài hòa giữa con người và tổ chức. Đồng thời cũng cần hình thành và duy trì văn hóa tổ chức tích cực và giàu tính nuôi dưỡng.

Phó Giáo sư Nguyễn Quang Trung, Chủ nhiệm nhóm bộ môn Quản trị tại Khoa Kinh doanh và Quản trị Đại học RMIT kết luận: “Vấn đề cốt lõi không phải là chúng ta ở đâu, mà là chúng ta làm việc như thế nào. Tính tự chủ, tôn trọng, kết nối và hợp lý là chìa khóa để ‘truyền lửa’ cho người lao động dù họ có làm việc ở đâu. Theo những nguyên tắc này, lãnh đạo cần phải tư duy rộng hơn và sáng tạo hơn về lợi ích ròng và cách đạt được nó”.

Ngọc Hoàng - Đại học RMIT

Tin bài khác
131 năm Swarovski, câu chuyện về một viên pha lê muốn thay thế kim cương

131 năm Swarovski, câu chuyện về một viên pha lê muốn thay thế kim cương

Năm 1895, khi Daniel Swarovski cùng hai người bạn là Franz Weis và Armand Kosmann thành lập công ty tại thị trấn Wattens của nước Áo, với cái tên ban đầu khá dài dòng là A Kosman Daniel Swarovski và Co, mang logo hình bông hoa Edelweiss, loài quốc hoa của nước Áo. Người đàn ông này sinh ra và lớn lên tại Bohemia thuộc Cộng hoà Séc, cái nôi sản xuất thủy tinh của châu Âu, cha của ông sở hữu một nhà máy sản xuất thủy tinh nhỏ, khi lớn lên cậu bé Daniel Swarovski học nghề trong công xưởng của gia đình.
Ford Motor 123 năm: Không phát minh ra ô tô nhưng thay đổi cách cả thế giới di chuyển

Ford Motor 123 năm: Không phát minh ra ô tô nhưng thay đổi cách cả thế giới di chuyển

Năm 1903, Henry Ford không phải người đầu tiên chế tạo ô tô. Karl Benz đã làm điều đó từ năm 1885. Daimler, Peugeot và nhiều tên tuổi châu Âu khác đã đi trước ông cả thập kỷ. Nhưng Henry Ford đã làm một thứ mà không ai trong số đó làm được, đó là phát minh ra hệ thống sản xuất khiến ô tô trở thành thứ mà người bình thường có thể mua được.
Merck 358 năm: Từ hiệu thuốc gia đình trở thành tập đoàn khoa học và công nghệ lâu đời nhất thế giới

Merck 358 năm: Từ hiệu thuốc gia đình trở thành tập đoàn khoa học và công nghệ lâu đời nhất thế giới

Năm 1668, Friedrich Jacob Merck mua lại một hiệu thuốc nhỏ mang tên Engel Apotheke tại thành phố Darmstadt, Đức. Ông không biết mình vừa đặt nền móng cho thứ sẽ trở thành một trong những tập đoàn khoa học và công nghệ lớn nhất hành tinh 358 năm sau đó.
American Express 176 năm: Niềm tin khách hàng là tài sản không thể sao chép

American Express 176 năm: Niềm tin khách hàng là tài sản không thể sao chép

Năm 1850, tại Buffalo (New York, Mỹ), Henry Wells, William Fargo và John Butterfield thành lập American Express với nhiệm vụ ban đầu là vận chuyển hàng hóa và tiền mặt an toàn trên những tuyến đường đang mở rộng về phía Tây nước Mỹ. Ít ai có thể hình dung doanh nghiệp vận tải nhỏ ngày ấy sẽ phát triển thành một trong những thương hiệu dịch vụ tài chính giá trị nhất thế giới. Điều làm nên sức bền của American Express không chỉ là quy mô hay công nghệ, mà còn là khả năng xây dựng niềm tin với khách hàng qua nhiều thế hệ.
Schneider Electric gần 190 năm: Công thức tồn tại ở tâm điểm mọi cuộc cách mạng công nghiệp toàn cầu

Schneider Electric gần 190 năm: Công thức tồn tại ở tâm điểm mọi cuộc cách mạng công nghiệp toàn cầu

Năm 1836, tại một xưởng luyện kim nhỏ ở Le Creusot, nước Pháp, anh em nhà Schneider không hề biết rằng họ vừa đặt viên gạch đầu tiên cho một doanh nghiệp sẽ tồn tại gần hai thế kỷ, đi qua đúng bốn cuộc cách mạng công nghiệp mà không một lần đứng ngoài cuộc. Từ thép, họ chuyển sang điện. Từ điện, họ chuyển sang tự động hóa. Và hôm nay, khi cả thế giới đang chạy đua với AI và chuyển đổi xanh, Schneider Electric một lần nữa đứng ở chính giao điểm mà nhân loại đang hướng tới. Đó không phải may mắn. Đó là một công thức được lặp lại có chủ đích suốt 190 năm.
Hermès gần 190 năm: Thương hiệu chậm chắc lại càng đắt giá

Hermès gần 190 năm: Thương hiệu chậm chắc lại càng đắt giá

Trong một thế giới chạy đua với tốc độ, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI), Hermès vẫn kiên định với một con đường hoàn toàn khác. Thương hiệu gần 190 năm tuổi này không bán sự hào nhoáng hay địa vị theo cách thông thường. Điều Hermès mang đến là giá trị của thời gian, tay nghề thủ công và sự tỉ mỉ, những yếu tố rất khó sao chép bằng công nghệ hay thuật toán.
Hitachi: Hơn 115 năm xây dựng hạ tầng công nghệ cho thế giới

Hitachi: Hơn 115 năm xây dựng hạ tầng công nghệ cho thế giới

Có những thương hiệu được biết đến nhờ một sản phẩm đình đám. Có những thương hiệu trở thành biểu tượng nhờ một phát minh thay đổi thời đại. Nhưng Hitachi lại chọn một con đường hoàn toàn khác, đps là âm thầm xây dựng những "xương sống" vô hình của nền kinh tế hiện đại.
Tăng năng lực cảnh báo sớm, giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó phòng vệ thương mại

Tăng năng lực cảnh báo sớm, giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó phòng vệ thương mại

Trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng gia tăng tại nhiều thị trường xuất khẩu lớn, việc xây dựng cơ chế cảnh báo sớm được xem là giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam chủ động nhận diện rủi ro, nâng cao năng lực ứng phó và bảo vệ hoạt động xuất khẩu.
Peugeot: Hành trình hơn 216 năm từ xưởng thép nhỏ đến biểu tượng ô tô toàn cầu

Peugeot: Hành trình hơn 216 năm từ xưởng thép nhỏ đến biểu tượng ô tô toàn cầu

Năm 1810, khi Napoleon Bonaparte còn đang định hình bản đồ châu Âu, một gia đình tại vùng Franche-Comté của Pháp bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực luyện kim. Thời điểm đó, điện chưa xuất hiện trong đời sống thường nhật, ô tô vẫn là khái niệm chưa tồn tại và cuộc cách mạng công nghiệp hiện đại mới chỉ ở giai đoạn đầu. Ít ai có thể hình dung rằng hơn hai thế kỷ sau, doanh nghiệp ấy sẽ trở thành một trong những thương hiệu ô tô lâu đời nhất thế giới vẫn còn hoạt động.
135 năm của Philips: Bài học về sự đổi thay trước khi quá muộn

135 năm của Philips: Bài học về sự đổi thay trước khi quá muộn

Có những doanh nghiệp được nhớ đến bởi một sản phẩm mang tính biểu tượng, Philips lại khác. Trong hơn một thế kỷ tồn tại, thương hiệu này liên tục thay đổi đến mức mỗi thế hệ người tiêu dùng lại nhớ tới Philips theo một cách khác nhau. Người lớn tuổi nhớ tới bóng đèn, radio và tivi. Thế hệ sau nhớ tới đầu đĩa CD, máy cạo râu hay đồ gia dụng. Còn ngày nay, Philips được biết đến nhiều hơn với các thiết bị y tế và công nghệ chăm sóc sức khỏe.
Sumitomo 436 năm tuổi: Vì sao tập đoàn doanh nghiệp lâu đời nhất thế giới vẫn phát triển mạnh mẽ?

Sumitomo 436 năm tuổi: Vì sao tập đoàn doanh nghiệp lâu đời nhất thế giới vẫn phát triển mạnh mẽ?

Khi hàng nghìn doanh nghiệp biến mất sau mỗi cuộc khủng hoảng, một tập đoàn Nhật Bản vẫn tồn tại suốt hơn 436 năm, đi qua chiến tranh, suy thoái kinh tế, đại dịch và nay là làn sóng AI. Điều gì giúp Sumitomo trường tồn mà không phải quy mô tài sản hay công nghệ vượt trội?
Rolex: Lý do trường tồn hơn 120 năm của thương hiệu toàn cầu

Rolex: Lý do trường tồn hơn 120 năm của thương hiệu toàn cầu

Mỗi năm, Rolex bán ra hàng triệu chiếc đồng hồ và tạo ra doanh thu hàng chục tỷ USD. Nhưng điều làm nên vị thế đặc biệt của thương hiệu này chưa bao giờ chỉ là những con số. Trong khi nhiều doanh nghiệp nỗ lực sản xuất nhiều hơn, quảng cáo nhiều hơn và xuất hiện nhiều hơn để giành sự chú ý, Rolex lại chọn con đường gần như ngược lại. Hãng đồng hồ với thương hiệu toàn cầu luôn chủ động tạo ra sự khan hiếm, hạn chế quảng cáo ồn ào và kiên nhẫn bồi đắp giá trị suốt hơn một thế kỷ.
Tổng Giám đốc ngân hàng MB: Tái cấu trúc tín dụng, dồn lực vào FDI và bán lẻ

Tổng Giám đốc ngân hàng MB: Tái cấu trúc tín dụng, dồn lực vào FDI và bán lẻ

Ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB cho rằng, tăng trưởng tín dụng cần đi kèm tái cấu trúc dòng vốn, ưu tiên FDI, bán lẻ và hộ kinh doanh nhằm tạo giá trị bền vững cho nền kinh tế.
140 năm Bosch và bí mật trường tồn: Thà mất tiền còn hơn

140 năm Bosch và bí mật trường tồn: Thà mất tiền còn hơn

Lịch sử kinh doanh thế giới đã chứng kiến một cái tên đã đi qua hai cuộc chiến tranh thế giới, hàng loạt cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều cuộc cách mạng công nghệ liên tiếp, và vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ sau gần 140 năm tồn tại. Đó là Bosch.
IBM sống sót nhờ bí mật: Dám từ bỏ chính mình

IBM sống sót nhờ bí mật: Dám từ bỏ chính mình

Lịch sử kinh doanh thế giới từng chứng kiến rất nhiều đế chế tưởng như bất khả chiến bại rồi biến mất chỉ trong vài năm. Kodak từng thống trị ngành nhiếp ảnh. Nokia từng là biểu tượng của điện thoại di động. BlackBerry từng được xem là chuẩn mực của giới doanh nhân toàn cầu. Nhưng rồi tất cả đều trở thành ký ức. Trong khi đó, có một doanh nghiệp ra đời từ năm 1911, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, sự xuất hiện của máy tính cá nhân, Internet, điện toán đám mây và giờ là trí tuệ nhân tạo nhưng vẫn tồn tại và tiếp tục tạo ra giá trị. Đó là IBM.