Việt Nam đạt mức tăng trưởng nhanh nhất khu vực về công bố khoa học

Công nghệ | 16:43:00 08/10/2019 |  9

Báo cáo nghiên cứu toàn cầu tại Nam và Đông Nam Á cho thấy Việt Nam có tốc độ tăng trưởng công bố khoa học nhanh nhất trong khu vực này.

Trang ISI Clarivate Web of Science (ISI) vừa đăng tảBáo cáo nghiên cứu toàn cầu tại Nam và Đông Nam Á (Global Research Report – South and East Asia), trong đó, đề cập tới kết quả công bố khoa học của 14 nước tại khu vực Nam và Đông Nam Á, bao gồm: Lào, Myanmar, Brunei, Campuchia, Sri Lanka, Philippines, Bangladesh, Indonesia, Thái Lan, Pakistan, Malaysia, Singapore, Ấn Độ và Việt Nam trong giai đoạn 1981-2018. Báo cáo nghiên cứu nói trên được tiến hành bởi 4 nhà khoa học đang làm việc cho ISI bao gồm Jonathan Adams, Gordon Rogers, Martin Szomszor và David Pendlebury.

Trong báo cáo, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đội ngũ các nhà khoa học tại Nam Á và Đông Nam Á đã có đóng góp không nhỏ vào thành tựu chung của khoa học thế giới. Tuy nhiên, những đóng góp này lại chủ yếu được tạo nên trong khoảng thời gian những nhà khoa học của khu vực làm việc tại nước ngoài. Báo cáo cũng cho thấy, năng lực nghiên cứu khoa học của khu vực Nam Á và Đông Nam Á đã có sự tăng trưởng vượt bậc thể hiện qua số lượng công bố tăng đáng kể trong cơ cấu công bố của khoa học thế giới. Cụ thể, trung bình mỗi năm, các nhà khoa học từ khu vực này đã công bố 8% tổng sản lượng công bố khoa học toàn cầu (giai đoạn 1981-1995, con số công bố chỉ dừng lại ở 3%).

Biểu đồ thể hiện kết quả công bố khoa học của Việt Nam. Nguồn: Global Research Report – South and East Asia

Chi tiết hơn, báo cáo nhận định, trong các nước thuộc khu vực, Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh nhất về công bố khoa học, với lượng công bố tăng đã tăng gấp năm lần kể từ năm 2009. Và theo như nhận định, Việt Nam vẫn còn có nhiều dư địa để phát triển nhanh hơn và hội nhập sâu hơn với thế giới về khoa học công nghệ trong những năm tiếp theo.

Nếu xét về tổng số lượng công bố khoa học, Singapore là một điển hình vượt trội trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á (chỉ sau Ấn Độ). Trong giai đoạn 1981-2018, nước này đóng góp hơn 120.000 bài báo được ISI chỉ mục, chỉ sau Ấn Độ (hơn 560.000 bài báo).

Sau hai cái tên dẫn đầu là Ấn Độ, Singapore, các nước có tổng số công bố khoa học lớn trong khu vực bao gồm: Malaysia (hơn 91.000 bài), Pakistan (hơn 77.000 bài), Thái Lan (hơn 70.000 bài), Việt Nam (hơn 26.000 bài).

Có thể thấy, sự tăng trưởng tương đối nhanh về sản lượng công bố khoa học của khu vực Nam và Đông Nam Á cho thấy một tín hiệu tốt đi kèm với sự phát triển và tiềm năng kinh tế của khu vực này. Và riêng với Việt Nam, việc tốc độ tăng trưởng công bố khoa học tăng nhanh nhất khu vực chắc chắn là một tín hiệu vui sau một quá trình dài đưa những chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, hội nhập quốc tế về khoa học.

Trước đó, theo nhận định của chuyên gia từ Đại học Ngoại thương, công bố khoa học được xem là một trong những thước đo trình độ phát triển khoa học công nghệ và sức cạnh tranh của một quốc gia. Do đó, đầu tư cho KH&CN là ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Trong 10 năm qua, số lượng các công bố quốc tế thuộc Scopus của Việt Nam đã tăng gần 5 lần, từ 1.764 bài công bố vào năm 2009, lên đến 8.234 bài năm 2018.

Trong khối ASEAN, Malaysia là nước có dân số đứng thứ 5 trong khu vực với gần 31 triệu dân (vào đầu năm 2019), nhưng đạt số công bố khoa học thuộc Scopus nhiều nhất, với số lượng bài xuất bản trong danh mục của Scopus bình quân hàng năm cao nhất ASEAN - xấp xỉ 24.700 bài/năm. Các con số này của Singapore, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam và Phillipines lần lượt là khoảng 19.000, 12.850, 9.450, 4.220 và 2.300 bài/năm; các nước còn lại của ASEAN chỉ đạt bình quân 200-300 bài/năm.

Việt Nam trong giai đoạn vừa qua ngày càng quan tâm nhiều hơn tới hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Số lượng và chất lượng các nghiên cứu và công bố không ngừng gia tăng. 

Tốc độ tăng công bố Scopus của Việt Nam 2009-2018. Nguồn: Cơ sở dữ liệu Scopus

Thống kê trên Cơ sở dữ liệu của Scopus chỉ ra số lượng các công trình công bố quốc tế của Việt Nam có tốc độ tăng khá ổn định, trong đó cao nhất vào năm 2016 (40,97%). Trong khi đó, Indonesia được ghi nhận là nước có tốc độ tăng công bố quốc tế Scopus cao nhất trong khối ASEAN.

Công bố của các nhà khoa học Việt Nam trên Scopus thuộc tất cả các lĩnh vực, trong đó, tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật. Trong năm 2018, các lĩnh vực có số lượng nghiên cứu được đăng tạp chí thuộc Scopus đạt từ một nghìn bài trở lên bao gồm: khoa học nông nghiệp, toán học, khoa học vật liệu, vật lí và thiên văn học, khoa học máy tính và kĩ thuật. Các lĩnh vực khác như nha khoa, y tế, khoa học thần kinh, điều dưỡng, thú y, tâm lí học, nghệ thuật và nhân văn có số lượng các bài nghiên cứu thuộc Scopus còn hạn chế, đều dưới 100 bài.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, phát huy khả năng sáng tạo và giúp các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên tạo ra những sản phẩm KH&CN có giá trị, hiện nay các trường đại học ở Việt Nam đã có nhiều chính sách khuyến khích và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học. Các trường đại học tổ chức các hoạt động nghiên cứu cấp cơ sở, hỗ trợ giảng viên và sinh viên tham gia, cùng với đó là các chính sách khuyến khích ngày càng mạnh. 

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, số lượng các nghiên cứu quốc tế của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với nhiều nước trong khu vực. Các trường đại học, các viện nghiên cứu của Việt Nam cần có những chính sách cụ thể, hiệu quả hơn nữa để khuyến khích các học giả tham gia nhiều hơn vào nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong những lĩnh vực công bố còn khiêm tốn như y tế, nha khoa, thú y, khoa học quyết định, kinh tế và quản lý, nghiên cứu đa ngành, v.v… Việt Nam cũng cần thúc đẩy mô hình hợp tác liên kết giữa các trường đại học và doanh nghiệp để tăng nguồn kinh phí cho nghiên cứu khoa học, đồng thời gia tăng khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Phong Lâm

Theo: vietq.vn