Thứ ba 28/07/2026 07:10
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Những vấn đề đặt ra về xử lý nợ xấu

12/10/2020 00:00
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định về xử lý nợ xấu và nâng cao năng lực tài chính, nhưng trên thực tế, đây là những vấn đề lớn, cần tập trung giải quyết trong năm 2019.

Nợ xấu vẫn là nỗi ám ảnh của không ít ngân hàng. Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Nỗi ám ảnh của các ngân hàng

Nợ xấu vẫn là nỗi ám ảnh của không ít ngân hàng. Nó không chỉ ăn mòn vào vốn, làm giảm lợi nhuận, mà còn làm giảm năng lực tài chính của nhiều NHTM. Nếu tính cả nợ xấu nội, ngoại bảng, nợ xấu chuyển sang AMC, bán qua VAMC, thì tỷ lệ nợ xấu vẫn khoảng gần 7%, đây là con số không hề nhỏ. Vào những tháng cuối năm 2018, nợ xấu của không ít ngân hàng tăng mạnh (13/17 ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng) tuy vẫn dưới 3%, nhưng nợ xấu nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn tăng nhanh. Một số ngân hàng đã mua lại toàn bộ số nợ xấu bán cho VAMC, nhưng quý 4 vừa qua và dự báo những tháng đầu năm 2019, nợ xấu tiếp tục tăng cao như: BIDV, VPbank, MB, Techcombank…

Nợ xấu có nguy cơ tăng cao, đặc biệt là nợ nhóm 5 những tháng cuối năm và sẽ tiếp tục kéo sang năm 2019 có nhiều nguyên nhân: Một số NHTM nhận lại những khoản nợ xấu đã bán cho VAMC, đã 5 năm mà không xử lý được, trái phiếu do tổ chức này phát hành lần lượt đáo hạn. Nhiều NHTM có khoản lãi dự thu (dự kiến thu được trong tương lai) đã được ghi nhận và hạch toán vào lợi nhuận từ những năm trước, nhưng đến nay vẫn chưa thu được. Khoản lãi, phí dự thu này đến cả trăm ngàn tỷ đồng. Theo quy định hiện hành, sau 6 tháng lãi dự thu không thu được, phải thoái ra, nhưng nhiều ngân hàng vẫn để từ năm này qua năm khác. Một khi lãi, phí dự thu không thu hồi được, thì khoản này là nợ xấu, thậm chí rất xấu. Các khoản nợ xấu mới phát sinh, trong đó không ít các khoản nợ được cơ cấu lại, đến hạn khách hàng vẫn không trả được, buộc các ngân hàng phải đưa sang nợ xấu, thậm chí nợ xấu nhóm 5.

Về tính pháp lý,Nghị quyết 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu có quy định rõ quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của khách hàng vay vốn, nhưng do nguyên nhân cả phía khách hàng vay (thiếu hợp tác), hoặc từ phía ngân hàng (do Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm không chặt chẽ, thiếu rõ ràng), hoặc còn vướng về khía cạnh pháp lý, nên VAMC cũng như ngân hàng cho vay không dễ áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng. Khi một số khách hàng có nợ xấu thiếu thiện chí trả nợ, việc khó thu giữ tài sản, thì để thanh lý được TSBĐ của những khoản nợ xấu này rất tốn kém về thời gian và công sức, chậm xử lý sẽ thiệt hại cho nhiều bên liên quan. Đối với những tài sản bảo đảm lớn, không dễ phát mại, dù đã hạ giá nhiều lần đến hàng trăm tỷ đồng. Vì thế nợ xấu các NHTM sẽ có nguy cơ tăng lên vào năm 2019. Khi nợ xấu lớn lại xử lý chậm, thì chi phí hoạt động ngân hàng sẽ cao, tiếp tục ảnh hưởng đến tình hình hình tài chính của mỗi NHTM, làm cho lãi suất cho vay khó giảm, DNNVV và siêu nhỏ tiếp cận vốn càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó còn có khoản nợ xấu lớn từ 3 ngân hàng 0 đồng, nợ xấu có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước, tuy đã được thể hiện trong kế hoạch hành động của Bộ Tài chính nhưng đến thời điểm này bố trí nguồn từ đâu, nếu nguồn từ NSNN thì phải sửa Luật, nếu nguồn ngoài Nhà nước là nguồn nào, cũng chưa được định hình rõ.

Năm 2019 phải tập trung xử lý rốt ráo nợ xấu đồng thời có các giải pháp để khuyến khích các NHTM tăng vốn. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Mặt khác trong điều kiện thu nhập của các ngân hàng vẫn chủ yếu từ hoạt động tín dụng, thì đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng để gia tăng lợi nhuận vẫn là mục tiêu hiện tại và tương lai của các ngân hàng. NHNN luôn yêu cầu các NHTM tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng. Nhưng đó là các khoản dư nợ mới phát sinh, còn khối lượng lớn dư nợ từ nhiều năm chuyển qua với thời gian vay rất dài lại tập trung vào một số ngành, các dự án BOT, BT, BTO ở lĩnh vực giao thông, các dự án điện, dầu khí, dự án BĐS phân khúc nhà ở cao cấp, biệt thự… của một số bộ/ ngành. Điều này luôn tiềm ẩn rủi ro kỳ hạn và nợ tiềm ẩn thành nợ xấu là lớn. Bên cạnh đó, tâm lý chưa minh bạch nợ xấu do áp lực về lợi nhuận, hạch toán các khoản nợ, cơ cấu lại khoản nợ, các khoản lãi, phí dự thu...chưa chuẩn, làm cho kết quả tài chính đôi khi bị sai lệch. Những vấn đề này nếu không được nhận diện đầy đủ, thì không chỉ khó khăn cho NHNN trong việc chỉ đạo điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, có cơ chế và biện pháp xử lý dứt điểm nợ xấu cũ, mà còn khó khăn cho chính NHTM trong việc tiết giảm chi phí quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính để thực hiện Basell 2 vào năm 2020.

Những giải pháp hữu hiệu

Năm 2019 phải tập trung xử lý rốt ráo nợ xấu đồng thời có các giải pháp để khuyến khích các NHTM tăng vốn. Đây là hai vấn đề phải làm song hành, không nên xem nhẹ vấn đề nào. Trước hết, cần tiếp tục tháo gỡ về pháp lý để đẩy nhanh hơn việc xử lý nợ xấu. Nghị quyết 42 đã đưa ra cơ chế xử lý nợ xấu, nhưng trên thực tế việc xử lý nợ xấu liên quan đến nhiều vấn đề, không chỉ giữa chủ nợ - các ngân hàng cho vay với con nợ - khách hàng vay, mà còn liên quan đến các bên như: Chính quyền, Công an, Viện kiểm Sát, Tòa án, vì thế phải dựa vào nhiều văn bản pháp luật… trong khi một số văn bản pháp luật (Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản) lại có những quy định không dễ dàng để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là BĐS. Do đó cần phải rà soát để tháo gỡ những vướng mắc về mặt pháp lý này.

Khai thác mọi nguồn lực cho việc xử lý nợ xấu: Bên cạnh các nguồn từ dự phòng rủi ro của các ngân hàng, nên cho phép Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được tham gia sâu hơn vào cơ cấu lại TCTD yếu kém gắn với xử lý nợ xấu, không chỉ dừng lại ở Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, mà có thể tham gia cơ cấu lại các NHTM nhỏ. Mặt khác, khi thị trường mua bán nợ thứ cấp chưa hình thành đúng nghĩa, khả năng mua nợ theo giá thị trường của VAMC còn hạn chế (do hạn chế về vốn điều lệ) nên áp dụng biện pháp đấu thầu quốc tế và chứng khoán hóa các khoản nợ đã mua có bảo đảm bằng tài sản. Đây cũng là kinh nghiệm mà Hàn Quốc triển khai có hiệu quả trong quá trình xử lý nợ xấu của các ngân hàng. Bên cạnh đó. cần có cơ chế, chính sách hợp lý để thu hút vốn đầu tư tư nhân tham gia tái cấu trúc ngân hàng, xử lý nợ xấu. Hiện nay, doanh nghiệp tư nhân là lực lượng chủ thể quyết định phát triển. Các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh là trục chính của phát triển kinh tế. Vì thế có chính sách để thu hút đầu tư tư nhân vào quá trình xử lý nợ xấu cũng như tái cấu trúc các ngân hàng nhỏ là một hướng đi phù hợp hiện nay.

Cần phân loại nợ minh bạch, kịp thời, chuẩn xác với các ứng dụng công nghệ trong quản lý rủi ro nói chung, trong đó có rủi ro tín dụng. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của các NHTM, AMC, VAMC và DATC. Đối với các NHTM và AMC của các ngân hàng: cần nâng cao chất lượng từng khoản vay, đồng thời tăng cường bộ phận kiểm tra kiểm soát, kiểm toán nội bộ để hạn chế nợ xấu mới phát sinh, ngăn chặn kịp thời rủi ro đạo đức. Mặt khác, cần phân loại nợ minh bạch, kịp thời, chuẩn xác với các ứng dụng công nghệ trong quản lý rủi ro nói chung, trong đó có rủi ro tín dụng.

Đối với các tổ chức VAMC và DATC, các tổ chức này có chức năng trong việc mua bán nợ, nợ xấu, quản lý và cung cấp thông tin mua bán nợ, nợ xấu, cần tập hợp đầy đủ thông tin và chuẩn hóa thông tin về nợ xấu, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận đầy thông tin. Trong phạm vi quyền và trách nhiệm của mình, cần đẩy nhanh tiến độ xử lý nhằm giảm thiểu những thiệt hại do sự chậm trễ trong quá trình xử lý nợ xấu của các bên có liên quan. Chúng tôi cho rằng, năm 2019 nợ xấu của các NHTM không nên chuyển qua VAMC dưới bất kỳ hình thức nào. Bởi suy cho cùng tránh nhiệm xử lý nợ xấu vẫn là các ngân hàng, NHNN cần đẩy mạnh thanh tra giám sát và minh bạch hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM, trong đó có minh bạch về nợ xấu nội bảng, nợ xấu ngoại bảng và phân loại nợ theo chuẩn mực quy định. Khi đó VAMC chỉ thực hiện mua bán nợ xấu theo kiểu “mua đứt, bán đoạn, lời ăn, lỗ chịu” như một định chế tài chính trên thị trường.

Tăng vốn nhằm tăng năng lực tài chính cho các NHTM là việc phải làm song hành với xử lý rốt ráo nợ xấu. Để tăng vốn, đối với các NHTMNN, Chính phủ cần tính đến việc bán bớt phần vốn nhà nước theo lộ trình. Năm 2019 nên thực hiện CPH Agribank, bước đầu nhà nước có thể năm giữ 90%, sẽ giảm dần qua các năm. Các ngân hàng TMCP có cổ phần nhà nước chi phối, cũng theo lộ trình nhà nước chỉ nên nắm giữ khoảng từ 55% đến 60% tùy theo quy mô từng ngân hàng (hiện nay Nhà nước đang nắm giữ trên 90% tại BIDV, trên 70% tại Vietcombank, khoảng 64% tại Vietinbank và 100% tại Agribank). Chính phủ nên cho phép các ngân hàng TMCP có yếu tố nhà nước được giữ lại phần lợi tức cổ phần của nhà nước để tăng vốn trong khoảng 3 năm (2018 – 2021) hoặc 5 năm, đến năm 2023. Đây cũng là việc làm cần thiết, tạo điều kiện cho hệ thống các NHTM nhà nước thực hiện có hiệu quả vai trò điều tiết, định hướng thị trường tín dụng.

PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi

(Nguyên Giám đốc Trường Đào tạo NNL, Vietinbank)

Tin bài khác
Ngân hàng Nhà nước tăng tốc huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Ngân hàng Nhà nước tăng tốc huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Nguồn vốn huy động từ người dân tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng, trong khi Ngân hàng Nhà nước đồng thời đẩy nhanh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và khai thác dữ liệu số. Hai động lực này được kỳ vọng sẽ tăng năng lực cung ứng vốn, giảm chi phí giao dịch và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Ngân hàng VIB báo lãi 5.180 tỷ, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng

Ngân hàng VIB báo lãi 5.180 tỷ, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng

Kết thúc nửa đầu năm 2026, ngân hàng VIB ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng ổn định, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng, đồng thời duy trì các chỉ số an toàn cao trong bối cảnh thị trường tài chính nhiều biến động.
VIB lãi 5.180 tỷ đồng, tài sản vượt 580 nghìn tỷ trong 6 tháng

VIB lãi 5.180 tỷ đồng, tài sản vượt 580 nghìn tỷ trong 6 tháng

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 5.180 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường tài chính tiếp tục cạnh tranh về lãi suất và tín dụng, VIB duy trì tăng trưởng trên nền tảng tài chính an toàn, chất lượng tài sản cải thiện và hiệu quả hoạt động ổn định.
Agribank dành 55.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển

Agribank dành 55.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển

Agribank triển khai các gói tín dụng ưu đãi quy mô lớn dành cho hộ kinh doanh và cá nhân sản xuất, kinh doanh với lãi suất cạnh tranh, góp phần bổ sung nguồn vốn, thúc đẩy mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và đồng hành cùng quá trình phục hồi, phát triển kinh tế.
Saigonbank lỗ quý II, huy động tiền gửi từ người dân suy giảm

Saigonbank lỗ quý II, huy động tiền gửi từ người dân suy giảm

Việc thua lỗ trong quý II đã khéo lùi kết quả kinh doanh của Saigonbank trong nửa đầu năm. Với 48 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, ngân hàng mới hoàn thành khoảng 15% kế hoạch lợi nhuận cả năm, đồng nghĩa áp lực hoàn thành mục tiêu kinh doanh trong 6 tháng cuối năm là rất lớn.
Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank: Tín nhiệm là chìa khóa tiếp cận vốn bền vững

Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank: Tín nhiệm là chìa khóa tiếp cận vốn bền vững

Theo Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank lãi suất chịu áp lực từ thị trường, nhưng xếp hạng tín nhiệm đang mở ra hướng đi mới giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, giảm phụ thuộc tài sản đảm bảo.
Lãi suất ngân hàng ngày 27/7/2026: Mặt bằng ổn định, chênh lệch rõ giữa các nhóm

Lãi suất ngân hàng ngày 27/7/2026: Mặt bằng ổn định, chênh lệch rõ giữa các nhóm

Lãi suất ngân hàng ngày 27/7/2026 ghi nhận lãi suất huy động tiếp tục duy trì ổn định, dao động mạnh giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và tư nhân.
Ngân hàng đẩy mạnh chứng chỉ tiền gửi lãi suất cao, cạnh tranh huy động vốn gay gắt

Ngân hàng đẩy mạnh chứng chỉ tiền gửi lãi suất cao, cạnh tranh huy động vốn gay gắt

Trước áp lực thanh khoản và tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng tăng tốc phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất lên tới 9%/năm, tạo cuộc đua huy động vốn ngày càng gay gắt.
Lãi suất ngân hàng ngày 25/7/2026: Kỳ hạn 12 tháng cao nhất chạm mốc 10%

Lãi suất ngân hàng ngày 25/7/2026: Kỳ hạn 12 tháng cao nhất chạm mốc 10%

Lãi suất ngân hàng ngày 25/7/2026 tiếp tục duy trì mặt bằng cao ở nhiều kỳ hạn, đặc biệt kỳ hạn 12 tháng ghi nhận mức cao nhất lên tới 10%/năm, song đi kèm điều kiện tiền gửi lớn.
Ngân hàng Nhà nước tăng cường năng lực giám sát tài sản mã hóa, phòng chống rửa tiền

Ngân hàng Nhà nước tăng cường năng lực giám sát tài sản mã hóa, phòng chống rửa tiền

Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) vừa phối hợp với các chuyên gia quốc tế tổ chức chương trình trao đổi về quản lý, giám sát tài sản mã hóa và phòng, chống rửa tiền.
Khách hàng tự chọn hạn mức giao dịch tăng bảo vệ trước rủi ro lừa đảo

Khách hàng tự chọn hạn mức giao dịch tăng bảo vệ trước rủi ro lừa đảo

Quy định mới cho phép khách hàng chủ động thiết lập hạn mức và thời gian chờ giao dịch, tạo thêm lớp bảo vệ trước lừa đảo trực tuyến, đồng thời cân bằng giữa an toàn tài sản và tiện ích thanh toán.
Dòng vốn xanh tăng tốc khi ngân hàng và doanh nghiệp cùng chuyển đổi mạnh mẽ

Dòng vốn xanh tăng tốc khi ngân hàng và doanh nghiệp cùng chuyển đổi mạnh mẽ

Dòng vốn xanh đang mở rộng nhanh khi ngân hàng hoàn thiện chính sách, doanh nghiệp chủ động chuyển đổi, tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng ACB vượt 1.000 tỷ đồng trong quý II

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng ACB vượt 1.000 tỷ đồng trong quý II

Trong quý II/2026, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ACB tăng từ 463 tỷ đồng cùng kỳ lên 1.060 tỷ đồng tương đương mức tăng gần gấp 2,3 lần. Việc tăng mạnh trích lập dự phòng đã kéo lợi nhuận trước thuế của ACB giảm còn 5.367 tỷ đồng, thấp hơn 12% so với cùng kỳ.
Lãi suất ngân hàng ngày 24/7/2026: Nhóm Big4 giữ ổn định, ngân hàng tư tăng nhẹ

Lãi suất ngân hàng ngày 24/7/2026: Nhóm Big4 giữ ổn định, ngân hàng tư tăng nhẹ

Lãi suất ngân hàng ngày 24/7/2026 ghi nhận xu hướng ổn định tại nhóm Big4, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần điều chỉnh tăng nhẹ ở các kỳ hạn dài nhằm thu hút dòng tiền gửi.
Phú Thọ: Tín dụng chính sách đạt hơn 20 nghìn tỷ đồng sau 6 tháng

Phú Thọ: Tín dụng chính sách đạt hơn 20 nghìn tỷ đồng sau 6 tháng

Đến hết tháng 6/2026, dư nợ tín dụng chính sách tại Phú Thọ đạt hơn 20.223 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm, hỗ trợ nhà ở xã hội và thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững.