Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 945,07 tỷ USD tính đến ngày 15/10, tăng 31,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 463,7 tỷ USD, tăng 25,9%; nhập khẩu đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2%. Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận mức nhập siêu 17,66 tỷ USD.
Riêng nửa đầu tháng 10, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 56,68 tỷ USD, gồm 29,25 tỷ USD xuất khẩu và 27,43 tỷ USD nhập khẩu. Nhờ đó, Việt Nam xuất siêu khoảng 1,82 tỷ USD trong giai đoạn này.
Tính từ ngày 16/10 đến hết tháng, để vượt mốc 1.000 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cần đạt thêm khoảng 54,93 tỷ USD. Nếu quy mô giao thương nửa cuối tháng tương đương nửa đầu tháng, tổng kim ngạch lũy kế 10 tháng có thể đạt khoảng 1.001,75 tỷ USD. Đây là kịch bản ước tính dựa trên số liệu hiện có, chưa phải kết quả thực tế được xác nhận.
![]() |
| Xuất nhập khẩu Việt Nam áp sát mốc 1.000 tỷ USD, nhập siêu vẫn gia tăng. |
Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục dẫn đầu xuất khẩu, với kim ngạch 135,31 tỷ USD tính đến ngày 15/10, tăng 65,2% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 29,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 58,62 tỷ USD, tăng 29%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 54,34 tỷ USD, tăng 18,2%. Tổng kim ngạch của ba nhóm hàng này đạt khoảng 248,27 tỷ USD, tương đương 53,5% giá trị xuất khẩu.
Ở chiều nhập khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 201 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt khoảng 56,8 tỷ USD. Hai nhóm hàng có tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 258 tỷ USD, chiếm gần 53,6% tổng giá trị nhập khẩu.
Tỷ trọng lớn của điện tử và máy móc ở cả hai chiều thương mại cho thấy hoạt động ngoại thương Việt Nam gắn chặt với chuỗi sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, kim ngạch lớn chưa đồng nghĩa toàn bộ giá trị được tạo ra trong nước, bởi nhiều ngành hàng vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu và mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa trong chuỗi cung ứng.
Bên cạnh các mặt hàng công nghiệp, nông, lâm, thủy sản tiếp tục đóng góp đáng kể cho xuất khẩu. Tính đến ngày 15/10, thủy sản đạt khoảng 9,7 tỷ USD, rau quả đạt 7,77 tỷ USD, hạt điều gần 4,1 tỷ USD và gạo khoảng 3,17 tỷ USD. Đây là những nhóm hàng góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 374,2 tỷ USD tính đến ngày 15/10, tăng 31,3% so với cùng kỳ, chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Ở chiều nhập khẩu, khu vực này đạt 356,49 tỷ USD, tăng 42,8%, chiếm khoảng 74% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước xuất khẩu 89,5 tỷ USD và nhập khẩu 124,8 tỷ USD, tương ứng nhập siêu khoảng 35,3 tỷ USD. Ngược lại, khu vực FDI xuất siêu khoảng 17,7 tỷ USD, góp phần bù đắp thâm hụt thương mại của khu vực doanh nghiệp trong nước. Tính chung, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam vẫn nhập siêu khoảng 17,66 tỷ USD.
Những con số này cho thấy khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động ngoại thương, đồng thời phản ánh sự khác biệt đáng kể về cán cân thương mại giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu, việc tăng cường liên kết giữa hai khu vực, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực cung ứng linh kiện trong nước có ý nghĩa quan trọng. Qua đó, doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, gia tăng giá trị nội địa và giảm phụ thuộc vào nguồn đầu vào nhập khẩu.
Việc tiến sát mốc 1.000 tỷ USD cho thấy quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, bên cạnh tốc độ tăng trưởng và tổng kim ngạch, diễn biến cán cân thương mại, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu và khả năng tạo giá trị gia tăng trong nước vẫn là những chỉ dấu quan trọng để đánh giá tính bền vững của hoạt động ngoại thương.
