Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 112/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026. Đây là lần đầu khung pháp lý cho hoạt động bán và chuyển giao tín chỉ carbon ra thị trường quốc tế được quy định cụ thể ở cấp nghị định.
Nghị định đặt nền cho việc Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường carbon toàn cầu, đồng thời tạo thêm cơ chế khai thác giá trị kinh tế từ các hoạt động giảm phát thải. Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
![]() |
| Tín chỉ carbon được biết đến với tên gọi dễ hiểu hơn là định mức carbon. Nó là lượng phát thải cho phép và hoạt động như một giấy phép |
Theo quy định mới, việc trao đổi và chuyển giao phải tuân thủ Thỏa thuận Paris, đồng thời góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển nền kinh tế carbon thấp tại Việt Nam.
Một điểm quan trọng là hoạt động này phải ưu tiên phục vụ mục tiêu giảm phát thải trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bảo đảm lợi ích quốc gia, hài hòa lợi ích giữa các bên và gắn với phát triển bền vững của cộng đồng địa phương.
Toàn bộ quá trình trao đổi quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia. Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan cấp văn bản chấp thuận chuyển giao sau khi kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon được cấp. Các tín chỉ đã bị thu hồi hoặc hết hiệu lực sẽ không được phép chuyển giao ra nước ngoài.
Đáng chú ý, nghị định lần đầu quy định rõ trần tỷ lệ chuyển giao quốc tế. Với nhóm hoạt động ưu tiên cao, tỷ lệ chuyển giao có thể lên tới 90%. Đây chủ yếu là các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, có tác động giảm phát thải mạnh.
Nhóm này gồm các lĩnh vực như điện địa nhiệt, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời quy mô nhỏ ở vùng khó khăn, hydrogen xanh, hệ thống lưu trữ năng lượng, công nghệ tiết kiệm năng lượng; chuyển đổi phương tiện sử dụng năng lượng sạch, phát triển vận tải phát thải thấp, trạm sạc xe điện; công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon, thu CO2 trực tiếp từ không khí; xử lý rác phát điện, thu hồi khí bãi chôn lấp, xử lý nước thải bằng công nghệ mới; canh tác lúa cải tiến, tận dụng phụ phẩm, sản xuất nhiên liệu sinh học và cải thiện chăn nuôi.
Trong khi đó, nhóm hoạt động phổ biến hơn, dễ triển khai hơn chỉ được chuyển giao tối đa 50%. Nhóm này gồm điện sinh khối, điện gió gần bờ, dự án năng lượng theo cơ chế CDM chuyển đổi, sử dụng phụ gia xi măng, thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng sinh khối, thiết bị điều hòa hiệu suất cao, sản xuất compost, xử lý rác không phát điện, thu hồi khí sinh học, xử lý chất thải chăn nuôi, cải tiến nuôi trồng thủy sản, REDD+, trồng rừng và tăng hấp thụ carbon.
Với trường hợp chuyển giao quốc tế không điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp cho một giai đoạn đối với tất cả chương trình, dự án. Phần còn lại sau khi chuyển giao quốc tế vẫn được phép sử dụng để trao đổi trong nước.
Không chỉ dừng ở cơ chế chuyển giao, nghị định còn quy định rõ việc bán tín chỉ carbon. Theo đó, cơ quan chủ quản chương trình, dự án đầu tư công được quyền quyết định việc bán kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án này.
Tuy nhiên, quá trình bán phải lấy ý kiến của bộ quản lý lĩnh vực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an và các cơ quan liên quan. Các đơn vị được lấy ý kiến phải trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày làm việc.
Với các dự án PPP, nguồn thu từ trao đổi tín chỉ carbon được ghi nhận là doanh thu của dự án và được quản lý theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Trường hợp dự án PPP đã ký hợp đồng hoặc đã có phương án tài chính mà phát sinh nhu cầu bán, trao đổi tín chỉ carbon, các bên sẽ phải điều chỉnh hợp đồng hoặc phương án tài chính tương ứng.
Đối với chương trình, dự án đầu tư công, khoản thu từ bán tín chỉ carbon được xác định là khoản thu ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định hiện hành.
Việc ban hành nghị định cho thấy Việt Nam đang mở thêm một cánh cửa mới cho thị trường carbon, nhưng không mở theo hướng buông lỏng. Cơ chế mới vừa tạo dư địa thu hút nguồn lực, vừa đặt giới hạn chuyển giao để tránh ảnh hưởng đến mục tiêu giảm phát thải quốc gia trong dài hạn.