Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc vừa ký ban hành Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại, ban hành kèm theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011.
![]() |
| Ngân hàng Phát triển Việt Nam yêu cầu bên được bảo lãnh ký hợp đồng nhận nợ vay bắt buộc. Từ thời điểm ký kết, doanh nghiệp chính thức trở thành bên nhận nợ vay bắt buộc tại ngân hàng này. |
Một trong những thay đổi đáng chú ý là quy định toàn bộ khoản phí bảo lãnh thu được sẽ được hạch toán vào thu nhập của Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Cùng với đó, VDB được trao quyền xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản hoặc giải thể sau khi hoàn tất thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật.
Quy định mới cũng làm rõ cơ chế thu phí trong quá trình doanh nghiệp đề nghị bảo lãnh vay vốn. Theo đó, phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh được ấn định ở mức 500.000 đồng cho mỗi hồ sơ. Khoản phí này được nộp trực tiếp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng với hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn.
Bên cạnh phí thẩm định, phí bảo lãnh vay vốn được xác định ở mức 0,5% mỗi năm trên số tiền được bảo lãnh. Việc quy định cụ thể mức thu giúp làm rõ hơn nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp khi tiếp cận cơ chế bảo lãnh vay vốn qua VDB.
Một nội dung quan trọng khác của Quyết định 12/2026/QĐ-TTg là siết lại cơ chế nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Theo quy định mới, sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ yêu cầu bên được bảo lãnh ký hợp đồng nhận nợ vay bắt buộc. Từ thời điểm ký kết, doanh nghiệp chính thức trở thành bên nhận nợ vay bắt buộc tại ngân hàng này.
Hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh được thiết kế với bốn nhóm nội dung chính. Trước hết là về lãi suất. Mức lãi suất áp dụng cho khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh được xác định bằng lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam ở thời điểm ký hợp đồng.
Tiếp đến là thời gian trả nợ. Nội dung này sẽ do VDB xem xét, quyết định trên cơ sở tình hình tài chính, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ thực tế của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho thấy cơ chế xử lý nợ không áp dụng cứng nhắc, mà được cân nhắc theo sức khỏe tài chính của bên vay.
Về bảo đảm cho khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam sẽ thực hiện định giá lại tài sản bảo đảm. Trường hợp sau khi định giá, giá trị tài sản bảo đảm của dự án hoặc phương án thấp hơn giá trị ghi sổ của số dư nợ gốc và nợ lãi tại thời điểm ký hợp đồng, việc bổ sung biện pháp bảo đảm sẽ được xem xét dựa trên năng lực tài chính và khả năng trả nợ của bên vay theo quy định pháp luật.
Nhóm nội dung thứ tư là các điều khoản khác liên quan đến khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Những nội dung này sẽ do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và bên nhận nợ thỏa thuận, thống nhất và ghi cụ thể trong hợp đồng.
Trên cơ sở đánh giá thực tế, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng có thể xem xét miễn, giảm lãi đối với khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Tuy nhiên, ngân sách nhà nước sẽ không cấp bù lãi suất và phí quản lý đối với các khoản dư nợ đã được áp dụng cơ chế miễn, giảm này.
Quyết định mới đồng thời giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện miễn, giảm lãi đối với khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh, qua đó làm rõ hơn đầu mối xử lý trong quá trình triển khai.
Ngoài ra, quy định về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro với các khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh cũng được điều chỉnh. Theo đó, việc trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý các khoản nợ này sẽ thực hiện theo quy định về chế độ quản lý tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và cơ chế xử lý rủi ro tín dụng do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Việc sửa đổi lần này cho thấy cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được điều chỉnh theo hướng rõ trách nhiệm tài chính, siết nghĩa vụ hoàn trả sau bảo lãnh nhưng đồng thời cũng trao thêm quyền chủ động cho VDB trong xử lý các trường hợp rủi ro, đặc biệt với doanh nghiệp đã phá sản hoặc giải thể sau thanh lý tài sản.