Một nơi lưu giữ những trầm tích văn hóa Nam Bộ, nơi tiếng đàn kìm và nhịp song lang từng ngân lên trong đêm dài của bài Dạ cổ hoài lang do Cao Văn Lầu sáng tác hơn một thế kỷ trước.
Nơi kia lại là vùng đất tận cùng của Tổ quốc, nơi con nước mặn mòi của biển Đông và biển Tây gặp nhau ở Mũi Cà Mau, đánh dấu điểm cuối cùng của dải đất hình chữ S.
Nếu Bạc Liêu gợi nhớ đến một không gian văn hóa, thì Cà Mau lại mở ra một không gian của lịch sử và địa lý.
Từ Dạ cổ hoài lang đến Mũi Cà Mau
Ở Bạc Liêu, lịch sử nhiều khi không được kể bằng những trận đánh hay những mốc thời gian khô khan. Nó được kể bằng tiếng đàn tài tử, bằng câu chuyện của những gia đình đi mở đất, bằng những ngôi nhà cổ nằm lặng lẽ giữa phố thị.
![]() |
Trình diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ – loại hình nghệ thuật gắn bó với đời sống tinh thần của người dân Bạc Liêu suốt nhiều thế hệ. Ảnh: NSNA Phan Thanh Cường |
Âm nhạc của Đờn ca tài tử Nam Bộ – loại hình nghệ thuật đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại – không chỉ là một hình thức biểu diễn. Nó còn là ký ức của vùng đất, nơi người nông dân sau một ngày làm ruộng vẫn có thể ngồi lại bên nhau, gảy vài câu đàn, hát vài câu vọng cổ để giãi bày tâm sự.
Bài Dạ cổ hoài lang ra đời từ chính bối cảnh đó. Ban đầu chỉ là nỗi niềm riêng của một con người, nhưng theo thời gian đã trở thành âm thanh đại diện cho cả một vùng văn hóa Nam Bộ.
Ông Tư Thành – một nông dân đã ngoài 70 tuổi (huyện Hòa Bình cũ) – kể lại: “Ở đây hồi xưa nhà nào cũng biết đờn ca tài tử hết. Không cần sân khấu gì đâu, cứ tối đến là mấy ông trong xóm đem đàn ra gảy vài câu cho vui”.
Ông nói rồi ngân nga vài câu vọng cổ quen thuộc. Âm điệu ấy, dù chỉ là mấy câu hát bâng quơ trong một buổi chiều quê, nhưng lại gợi nhớ đến cả một không gian văn hóa đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Ở vùng đất này, lịch sử nhiều khi không nằm trong những trang sách dày, mà nằm trong những câu hát, trong tiếng đàn vang lên giữa sân nhà, trong ký ức của những người dân đã sống qua nhiều thập niên.
Trong khi đó, đi về phía Nam thêm vài trăm cây số, câu chuyện của Cà Mau lại mang một sắc thái khác.
Đây là vùng đất cuối cùng của hành trình mở cõi. Những lớp lưu dân từ miền Trung, miền Bắc, rồi người Khmer bản địa, người Hoa… đã cùng nhau khai phá những cánh rừng ngập mặn, dựng nên làng xóm dọc theo các con sông.
Ông Sáu Nghi – một người lái vỏ lãi chở khách du lịch ra Mũi Cà Mau – chia sẻ: “Đất này hồi trước toàn rừng với nước thôi. Ông bà mình tới đây khai phá cực lắm. Nhưng cũng nhờ vậy mà mới có xóm làng như bây giờ.”
Ở nơi tận cùng ấy, đất và nước luôn dịch chuyển. Những cánh rừng đước ngày ngày lấn ra biển, giống như cách lịch sử của vùng đất này tiếp tục được bồi đắp qua thời gian.
Không chỉ là vùng đất mở cõi, Cà Mau còn in đậm dấu ấn của những năm tháng kháng chiến. Giữa hệ thống sông rạch chằng chịt và những cánh rừng đước, rừng tràm bạt ngàn như Rừng U Minh, nhiều cơ quan cách mạng từng đứng chân, được người dân che chở suốt những năm tháng chiến tranh.
![]() |
Biểu tượng cây đàn kìm – dấu ấn văn hóa đặc trưng của Bạc Liêu, nơi gắn liền với nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và bản Dạ cổ hoài lang vang danh hơn một thế kỷ. Ảnh: Nam Nhật |
Như câu nói quen thuộc của người dân sở tại: “Rừng ở đây không chỉ giữ đất, mà còn giữ người”. Có lẽ vì vậy mà khi đứng ở Mũi Cà Mau, người ta không chỉ cảm nhận hơi thở của thiên nhiên, mà còn thấy thấp thoáng dấu vết của một thời lịch sử.
Ở nơi tận cùng ấy, cảm giác về không gian cũng trở nên đặc biệt. Đứng ở Mũi Cà Mau, người ta như đang chạm tới điểm cuối của bản đồ đất nước, nhưng cũng là nơi đánh dấu hành trình đi về phương Nam của nhiều thế hệ người Việt suốt hàng trăm năm.
Nhìn từ góc độ văn hóa, Bạc Liêu và Cà Mau giống như hai dòng chảy song song. Một bên là dòng chảy của âm nhạc, nghệ thuật và đời sống tinh thần. Một bên là dòng chảy của lịch sử mở đất và ký ức của vùng đất cực Nam. Chính sự giao thoa ấy đã tạo nên bản sắc đặc biệt của miền đất cuối trời Nam.
Khi những vùng đất cũ gặp lại nhau
Nhưng lịch sử của vùng đất cực Nam không chỉ được bồi đắp qua văn hóa hay những lớp ký ức của quá trình mở cõi. Trong dòng chảy của thời đại, vùng đất này cũng nhiều lần thay đổi trong cách được tổ chức và gọi tên trên bản đồ hành chính.
| Sau năm 1975, Bạc Liêu và Cà Mau từng cùng nằm trong một đơn vị hành chính chung mang tên Minh Hải. Đến năm 1997, tỉnh Minh Hải được chia tách thành hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Từ đó, mỗi địa phương bước vào một chặng đường phát triển riêng, hình thành những dấu ấn đặc thù trong bức tranh chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Gần ba thập niên sau, từ ngày 1-7-2025, hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau một lần nữa được hợp nhất. |
![]() |
Khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và Nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Ảnh: NSNA Phan Thanh Cường |
Nhìn ở một góc độ nào đó, hành trình từ Minh Hải đến Cà Mau hôm nay giống như một vòng chuyển động của lịch sử – nơi những vùng đất từng gắn bó trong quá khứ lại được đặt cạnh nhau trong một không gian phát triển chung.
Thực ra, trong nhiều thế hệ, vùng đất cực Nam vốn đã là một không gian liên kết tự nhiên. Những dòng sông, những tuyến giao thương ven biển và cả những cộng đồng cư dân di cư từ nhiều vùng đất khác nhau đã tạo nên một cấu trúc xã hội đan xen giữa hai vùng đất này.
Với những ngư dân ven biển, sự gắn bó ấy hiện ra rất cụ thể trong đời sống hằng ngày. Ông Năm Lợi – một ngư dân ở vùng cửa biển Gành Hào – cho biết chiếc tàu nhỏ của ông nhiều năm nay vẫn quen đánh bắt dọc vùng biển từ Bạc Liêu xuống tận Cà Mau. “Biển thì một dải vậy thôi, tụi tôi đi theo luồng cá, có bữa ở vùng biển Bạc Liêu, có bữa xuống gần Cà Mau”.
![]() |
Đền thờ Lạc Long Quân – công trình văn hóa tâm linh tại Mũi Cà Mau, gợi nhắc truyền thuyết nguồn cội và hành trình mở cõi về phương Nam của cư dân Việt. |
Những chuyến tàu đi về theo mùa cá ấy đã lặng lẽ nối hai vùng biển lại với nhau từ rất lâu, trước cả khi những đường ranh giới hành chính được vẽ trên bản đồ.
Trong không gian ấy, văn hóa và sinh kế của cư dân luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Từ những cánh đồng lúa ven biển đến những vùng rừng đước rộng lớn, đời sống nơi đây từ lâu đã được định hình bởi biển, bởi rừng và bởi mạng lưới sông rạch chằng chịt của miền cực Nam.
Vì vậy, nếu nhìn sâu hơn, việc hai địa phương một lần nữa được đặt trong cùng một không gian hành chính cũng có thể được xem như một sự tái cấu trúc của không gian văn hóa – kinh tế của vùng đất cực Nam.
Ở góc độ phát triển, sự hợp nhất này mở ra một quy mô lớn hơn cho những lợi thế vốn đã tồn tại từ lâu. Với hơn 300 km bờ biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn trải dài, cùng những vùng nuôi tôm rộng lớn và tiềm năng năng lượng gió ngoài khơi, vùng đất này đang hình thành một cấu trúc kinh tế dựa trên kinh tế biển, thủy sản công nghệ cao, năng lượng tái tạo và du lịch sinh thái.
Trong không gian phát triển ấy, những địa danh như Mũi Cà Mau, Sông Đốc hay Gành Hào không chỉ là những cái tên trên bản đồ, mà đang dần trở thành những điểm nút của một hành lang kinh tế ven biển ở cực Nam Tổ quốc.
Có thể thấy, dù được chia tách hay hợp nhất trong những giai đoạn khác nhau, không gian của miền cực Nam vẫn luôn gắn bó bởi những mối liên hệ tự nhiên về văn hóa, kinh tế và đời sống.
Bởi vậy, sự thay đổi trên bản đồ hành chính hôm nay, ở một góc nhìn rộng hơn, không chỉ là một sự điều chỉnh về quản lý. Nó cũng là sự tiếp nối của những mối liên kết đã hình thành từ rất lâu trong đời sống của cư dân vùng cực Nam – nơi văn hóa, lịch sử và sinh kế luôn đan xen trong cùng một không gian.
Và trong vòng chuyển động ấy của lịch sử, cái tên Minh Hải dường như vẫn còn vang vọng đâu đó, như một ký ức chung của vùng đất tận cùng Tổ quốc.