TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 122/KH-UBND ngày 01/4/2026 về phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược đến năm 2030, thể hiện bước chuyển mạnh từ nghiên cứu sang làm chủ và thương mại hóa công nghệ.
Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở bám sát định hướng của Chính phủ về phát triển danh mục công nghệ chiến lược, đồng thời gắn với mục tiêu đưa TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.
Điểm nhấn xuyên suốt của Kế hoạch là xây dựng hệ sinh thái công nghệ chiến lược hoàn chỉnh, không chỉ dừng ở nghiên cứu mà còn nội địa hóa và đưa sản phẩm ra thị trường.
Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ phát triển từ 30–50 sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng thương mại hóa; đồng thời hình thành từ 5–7 trung tâm, phòng thí nghiệm và nền tảng công nghệ dùng chung phục vụ nghiên cứu và phát triển.
Khoảng 100–150 doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ tham gia nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chiến lược, trong đó dự kiến có 10–15 sản phẩm được đưa vào ứng dụng trực tiếp trong quản lý nhà nước, dịch vụ công và các ngành kinh tế trọng điểm.
![]() |
Cùng với đó, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu thu hút 30–50 chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh theo mô hình liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, ngay trong năm 2026, Thành phố sẽ tiến hành khảo sát toàn diện hiện trạng công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu và đánh giá năng lực của từng chủ thể trong hệ sinh thái. Đây được xem là nền tảng quan trọng để tránh đầu tư dàn trải, bảo đảm tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực ưu tiên.
Song song đó, Thành phố định hướng phát triển hạ tầng công nghệ theo mô hình dùng chung, thay vì đầu tư phân tán. Các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và nền tảng công nghệ sẽ phục vụ toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa, giúp tối ưu nguồn lực và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến.
Về định hướng phát triển, TP. Hồ Chí Minh lựa chọn 9 nhóm công nghệ chiến lược với 26 nhóm sản phẩm ưu tiên, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), robot, mạng 5G/6G, blockchain, bán dẫn, năng lượng mới, điện toán đám mây và công nghệ y sinh.
Trong đó, nhiều công nghệ mang tính đột phá được xác định là trọng tâm như mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, chip AI, robot tự hành, năng lượng hydrogen, liệu pháp gene và tế bào.
Điểm đáng chú ý của Kế hoạch là yêu cầu gắn chặt hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thị trường. Thành phố đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nhiệm vụ khoa học – công nghệ có sản phẩm ứng dụng thực tế, tạo ra doanh thu hoặc giá trị kinh tế – xã hội cụ thể.
Các sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ được ưu tiên triển khai trong các lĩnh vực trọng điểm và các “bài toán lớn” của đô thị, từ quản lý đô thị, dịch vụ công đến sản xuất công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao, qua đó tận dụng thị trường nội địa làm bệ đỡ cho phát triển công nghệ.
Bên cạnh đó, Thành phố đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo mô hình gắn đào tạo với thực tiễn, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp, nhằm hình thành đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ.
Ở góc độ hợp tác, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu triển khai từ 10–15 chương trình hợp tác quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đồng thời xây dựng các chuỗi giá trị công nghệ chiến lược liên vùng thông qua 3–5 chương trình liên kết.
Thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao vào lĩnh vực công nghệ chiến lược cũng được xác định là trụ cột quan trọng, gắn với phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế.
Nhìn tổng thể, Kế hoạch 122 cho thấy TP. Hồ Chí Minh đang chuyển từ vai trò hỗ trợ sang dẫn dắt tăng trưởng trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, với trọng tâm là làm chủ công nghệ, đưa vào ứng dụng thực tiễn và tạo ra giá trị kinh tế cụ thể – yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.