Theo thống kê của TCBS Research dựa trên báo cáo tài chính bán niên của các ngân hàng, trong quý II/2026, hệ thống ghi nhận thêm khoảng 614.000 tỷ đồng tiền gửi dân cư, tăng 4,8% so với quý I. Qua đó, tổng số dư tiền gửi đạt khoảng 13,4 triệu tỷ đồng, tăng 5,5% so với đầu năm và 12,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tốc độ tăng tiền gửi vẫn thấp hơn đáng kể so với tín dụng. Dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng được thống kê tăng 9% từ đầu năm. Có tới 20/26 ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng tiền gửi thấp hơn tốc độ tăng dư nợ, tạo ra khoảng cách 3,5 điểm phần trăm giữa tăng trưởng huy động và tín dụng.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến áp lực cân đối nguồn vốn và thanh khoản gia tăng khi nhu cầu tín dụng phục hồi mạnh.
![]() |
| Tiền gửi khách hàng hụt nhịp tín dụng, ngân hàng tăng tốc phát hành giấy tờ có giá |
Xét từng ngân hàng, HDBank và VPBank ghi nhận tốc độ tăng tiền gửi khách hàng cao nhất, lần lượt đạt 20,2% và 16,7% từ đầu năm. Trong khi đó, tốc độ tăng tại nhóm ngân hàng quốc doanh thấp hơn, với VietinBank tăng 5,4%, Vietcombank tăng 3,4% và BIDV tăng 1,7%. Dù tốc độ tăng thấp hơn, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn có quy mô tiền gửi lớn, qua đó duy trì vai trò quan trọng trong nguồn vốn toàn hệ thống.
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm từ đầu năm, gồm ACB giảm 1,5%, Eximbank giảm 3,8%, SaigonBank giảm 4,3% và Bac A Bank giảm 5,4%.
Đáng chú ý, tăng trưởng tiền gửi thời gian qua chủ yếu đến từ tiền gửi có kỳ hạn, trong bối cảnh lãi suất huy động duy trì ở mức tương đối cao. Trong khi đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) vẫn chưa cho thấy sự cải thiện rõ rệt.
Tỷ lệ CASA toàn ngành giảm từ 21,7% cuối năm 2025 xuống 20,1% trong quý I/2026 và gần như đi ngang ở mức 20,2% vào cuối quý II. Có tới 22/26 ngân hàng được thống kê ghi nhận tỷ lệ CASA giảm so với đầu năm.
Techcombank tiếp tục dẫn đầu về tỷ lệ CASA với 33,8%, theo sau là MB ở mức 33,6% và Vietcombank 32,3%. Tuy nhiên, cả ba ngân hàng đều ghi nhận tỷ lệ này giảm so với cuối năm 2025.
Ở chiều ngược lại, Bac A Bank có tỷ lệ CASA chỉ 3,3%; Nam A Bank, VietABank và Kienlongbank cũng chỉ dao động khoảng 5-6%. Với tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn thấp, chi phí vốn của nhóm ngân hàng này phụ thuộc nhiều hơn vào lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.
Theo TCBS Research, tiền gửi dân cư tiếp tục là trụ đỡ quan trọng của hoạt động huy động vốn. Tuy nhiên, chi phí huy động đã tăng gần 2 điểm phần trăm trong nửa đầu năm và lên mức cao nhất kể từ giữa năm 2023. Diễn biến này phản ánh rõ sự chênh lệch giữa nhu cầu vốn và khả năng gia tăng nguồn tiền gửi khi tín dụng tăng 9%, trong khi tiền gửi chỉ tăng 5,5%.
Sự chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tiền gửi đang làm thay đổi đáng kể cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng. Đến cuối quý II/2026, tiền gửi khách hàng chỉ còn tài trợ 59,8% tổng nguồn vốn toàn ngành, giảm so với các quý trước.
Trong sáu quý gần nhất, tỷ trọng tiền gửi khách hàng trong tổng nguồn vốn giảm từ 64,6% xuống 59,8%. Cùng thời gian, tỷ trọng tiền vay liên ngân hàng tăng từ 13,4% lên 16,5%, còn giấy tờ có giá tăng từ 8% lên 8,8%.
Đáng chú ý, quy mô giấy tờ có giá của 26 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 1,96 triệu tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 16,7% so với đầu năm và 23,6% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng này cao gấp khoảng 3 lần mức tăng 5,5% của tiền gửi khách hàng.
Trong 26 ngân hàng được thống kê, có 18 ngân hàng tăng số dư giấy tờ có giá từ đầu năm. Riêng BIDV, ACB, VPBank và MB đóng góp gần 90% mức tăng khoảng 280.000 tỷ đồng của toàn nhóm.
Một số ngân hàng tư nhân có tỷ trọng cho vay trung và dài hạn lớn đang sử dụng mạnh kênh huy động này. Tỷ trọng giấy tờ có giá trong tổng huy động của OCB, ACB và Techcombank đều trên 20%; MB ở mức 15,5% và VPBank khoảng 13,5%.
Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, BIDV là trường hợp nổi bật khi số dư giấy tờ có giá tăng gần 34%, lên khoảng 302.000 tỷ đồng, cao nhất hệ thống. Ngược lại, VietinBank giảm 17,8%, trong khi tỷ trọng giấy tờ có giá tại Vietcombank chỉ ở mức 1,7%, nhờ lợi thế về nguồn tiền gửi khách hàng và tiền gửi Kho bạc.
Kênh giấy tờ có giá hiện được triển khai ở cả hai phân khúc. Các ngân hàng phát hành trái phiếu với kỳ hạn dài để thu hút nguồn vốn từ tổ chức, đồng thời phát hành chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn ngắn hơn tới khách hàng cá nhân.
Đáng chú ý, hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng tăng mạnh từ tháng 6/2026. Riêng trong tháng 7, trái phiếu ngân hàng chiếm phần lớn lượng phát hành trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, với khoảng 35.600 tỷ đồng trong tổng số 41.000 tỷ đồng.
Theo TCBS Research, giấy tờ có giá nhiều khả năng tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi trong nửa cuối năm 2026. Tuy nhiên, đây cũng là kênh huy động có chi phí cao, do đó việc gia tăng tỷ trọng nguồn vốn này có thể tạo thêm áp lực lên chi phí vốn và biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng.
Áp lực này có thể tiếp tục gia tăng khi nhu cầu tín dụng được kỳ vọng duy trì ở mức cao sau khi các ngân hàng được phân bổ hạn mức tín dụng mới. Trong khi đó, kế hoạch phát hành hơn 75.000 tỷ đồng trái phiếu cấp 2 mới được thực hiện một phần, cùng khoảng 20.000 tỷ đồng trái phiếu ngân hàng dự kiến đáo hạn trong nửa cuối năm cần được tái cấp vốn hoặc đảo nợ.
Lãi suất phát hành trái phiếu ngân hàng hiện phổ biến khoảng 8-10%/năm, cao hơn đáng kể so với mức chi phí vốn bình quân khoảng 4,8% của ngành. Vì vậy, khi tỷ trọng nguồn vốn này tăng, chi phí huy động bình quân có thể chịu sức ép, qua đó ảnh hưởng đến NIM, đặc biệt tại những ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn có chi phí cao.
Diễn biến trên cho thấy bài toán huy động vốn của hệ thống ngân hàng trong nửa cuối năm không chỉ nằm ở khả năng thu hút thêm tiền gửi, mà còn ở việc cân đối giữa tốc độ tăng tín dụng, chi phí vốn và cơ cấu nguồn vốn. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, việc mở rộng các kênh vốn thay thế đang trở thành giải pháp quan trọng để các ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng, song đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chi phí vốn nhằm hạn chế tác động tới hiệu quả kinh doanh.