![]() |
| Lãi suất vay mua nhà đã tăng mạnh, với lãi suất thả nổi hiện phổ biến ở mức 12-14%/năm. |
Cho vay mua nhà chững lại, cho vay chủ đầu tư bất động sản vẫn tăng
Theo báo cáo phân tích của CTCP Chứng khoán SSI (SSI), sau những nỗ lực đa dạng hóa danh mục cho vay trong quý 1/2026, phần lớn ngân hàng đã quay trở lại các lĩnh vực được cho là thế mạnh của mình trong quý 2/2026.
Cụ thể, những ngân hàng có nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng như MBB, VPB, HDB, TCB, TPB và VIB chủ yếu đẩy mạnh giải ngân cho vay chủ đầu tư bất động sản tăng 22% so với quý trước, thương mại và bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy tăng 6% so với quý trước và dịch vụ tài chính (chủ yếu là công ty chứng khoán) tăng 20% so với quý trước.
Trong khi đó, nhóm NHTMNN và ACB tập trung cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn và hộ kinh doanh.
Cho vay mua nhà chững lại trên toàn ngành, kể cả những ngân hàng có hạn mức tín dụng dồi dào như VPB tăng 2,4% so với quý trước, tại HDB đi ngang so với quý trước và TCB giảm 1,4% so với quý trước.
Xu hướng này tương đối dễ hiểu khi lãi suất vay mua nhà đã tăng mạnh, với lãi suất thả nổi hiện phổ biến ở mức 12-14%/năm, trong khi nguồn cung nhà ở giá thấp vẫn hạn chế.
Tín dụng mảng xây dựng tiếp tục tăng trưởng ổn định tại nhiều ngân hàng, dù đã có dấu hiệu chậm lại tại các ngân hàng cho vay lớn như MBB, VPB và TCB. Trong khi đó, dịch vụ tài chính vẫn là một trong những lĩnh vực được đẩy mạnh cấp tín dụng, với ít nhất 42.600 tỷ đồng tín dụng mới được giải ngân trong quý 2/2026, tăng 20% so với quý trước và tăng 27% tính từ đầu năm.
Trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao, các ngân hàng ngày càng dịch chuyển cơ cấu cho vay sang các khoản vay trung và dài hạn thay vì tập trung vào cho vay ngắn hạn.
Trong phạm vi theo dõi của SSI, dư nợ trung và dài hạn tăng 6% so với quý trước, cao hơn đáng kể so với dư nợ trong ngắn hạn tăng 3,8% so với quý trước. BID duy trì các kỳ hạn cho danh mục cho vay tương đối cân bằng, trong khi CTG và MSB tiếp tục ưu tiên cho vay ngắn hạn.
Theo đó, sự thay đổi trong cơ cấu kỳ hạn cho vay là một trong những động lực thúc đẩy NIM mở rộng trong quý 2/2026.
Tín dụng tăng tích cực ở nhóm cổ phần, nhiều ngân hàng vay vốn quốc tế
Tính đến hết quý 2/2026, tổng dư nợ tín dụng toàn ngành tăng 5,3% so với quý trước, đưa mức tăng trưởng tín dụng tính từ đầu năm lên 9,1%, giữ vững đà tăng mạnh trong quý 1/2026.
Tăng trưởng chủ yếu tập trung ở nhóm NHTMCP: VPB, HDB và TCB ghi nhận tăng trưởng tín dụng đạt 11-12% so với quý trước, trong khi MBB tăng 9,6% so với quý trước.
Ngược lại, nhóm NHTMNN tăng trưởng thận trọng hơn: CTG và BID chỉ tăng khoảng 3% so với quý trước trong khi dư nợ cho vay của VCB gần như đi ngang khi tăng 0,2% so với quý trước, do các ngân hàng chủ động dành hạn mức cho vay cho các dự án hạ tầng quốc gia có quy mô lớn, dự kiến được đẩy mạnh trong nửa cuối năm 2026.
![]() |
| Nguồn: SSI Research. |
Tổng tiền gửi trong quý 2/2026 tăng 5,3% so với quý trước, tương đương tốc độ tăng trưởng tín dụng, sau khi chỉ tăng 1,5% trong quý 1/2026.
Dù có cải thiện, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) toàn ngành vẫn ở mức cao 102,4%, phản ánh áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu. Nhiều ngân hàng tiếp tục đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi và vay vốn quốc tế, bao gồm: VPBank (1,44 tỷ USD), HDBank (720 triệu USD) và ACB (500 triệu USD). Tuy nhiên, chi phí huy động dự kiến duy trì ở mức cao trong các quý tới.
Nhóm Big4: Lợi nhuận vẫn lớn
Ngành ngân hàng tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng mạnh trong quý 2/2026, trong phạm vi nghiên cứu của SSI ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế đạt 95.700 tỷ đồng, tăng 27,6% so với cùng kỳ và 20,3% so với quý trước.
Nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN) dẫn đầu đà tăng, đáng chú ý là VCB với mức tăng 58% so với cùng kỳ và 48% so với quý trước, theo sau là CTG tăng 22% so với cùng kỳ và BID tăng 20% so với cùng kỳ) cũng ghi nhận kết quả tích cực.
Trong nhóm NHTMCP, đặc biệt là các ngân hàng có nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng như VPB tăng 76% so với cùng kỳ, HDB tăng 51% so với cùng kỳ và MBB tăng 41% so với cùng kỳ đều ghi nhận mức lợi nhuận vượt trội so với mặt bằng chung của ngành. STB là trường hợp kém khả quan nhất khi lợi nhuận giảm 44% so với cùng kỳ.
Nhìn chung, kết quả vượt kỳ vọng chủ yếu đến từ VCB, CTG và BID, nhờ thu nhập lãi thuần tích cực, thu nhập ngoài lãi cải thiện và chi phí tín dụng giảm. Trong khi đó, STB và MSB ghi nhận kết quả thấp hơn dự kiến.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, các ngân hàng trong phạm vi theo dõi của SSI đã hoàn thành khoảng 49,4% dự báo lợi nhuận trước thuế cả năm, phù hợp với kỳ vọng.
NIM phục hồi, chất lượng tài sản tiếp tục suy yếu
Theo SSI, ngành ngân hàng tiếp tục ghi nhận kết quả tốt hơn kỳ vọng, được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng tích cực, NIM phục hồi và thu nhập từ phí cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, những dấu hiệu về chất lượng tài sản suy giảm ngày càng trở nên rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan.
Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành lên mức cao kỷ lục trong quý 2/2026 kể từ năm 2020, xu hướng suy giảm chất lượng tài sản lan rộng trên các ngân hàng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm.
Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu tăng lên 1,97% từ 1,88% trong quý 1/2026, trong khi tỷ lệ nợ Nhóm 2 tăng lên 1,45% từ 1,30%, cho thấy áp lực chất lượng tài sản gia tăng.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống 82,9% từ 86,0%, dù chi phí dự phòng tăng 22,6% so với cùng kỳ, cho thấy bộ đệm dự phòng đang dần thu hẹp để đạt mức tăng trưởng lợi nhuận tích cực.
Biên lãi ròng (NIM) phục hồi khi NIM toàn ngành tăng lên 3,22% từ 3,04% trong quý 1/2026, tăng 18 điểm cơ bản so với quý trước, tăng 4 điểm cơ bản so với cùng kỳ, nhờ lãi suất cho vay tăng, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn tăng, và tỷ lệ LDR vẫn còn neo cao.
![]() |
| Nguồn: SSI Research. |
Theo đó, đà phục hồi NIM sẽ cần được theo dõi trong nửa cuối năm 2026 khi chi phí vốn điều chỉnh tăng mạnh hơn. Mặc dù điều kiện thanh khoản cải thiện trong quý, nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn dự kiến vẫn ở mức cao, do bước vào giai đoạn đầu tư tiếp theo của các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia và khoảng cách tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động.
Nhìn chung, SSI kỳ vọng lợi nhuận ngành ngân hàng sẽ tăng trưởng tích cực trong nửa cuối năm 2026, nhưng mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ rõ hơn, tùy thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng.