Những thách thức đối với phát triển AI ở Việt Nam: Nguồn vốn, tài năng và đạo đức

DNHN - Tầm nhìn trở thành trung tâm AI của nước ta cần sự hợp tác đa dạng từ xã hội, các công ty khởi nghiệp và những người chơi trong nền kinh tế AI.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa. (Ảnh: Getty Images)

Năm 2020, Việt Nam đã vượt qua GDP của Singapore và trở thành nền kinh tế lớn thứ ba trong ASEAN. Tháng 1 năm 2021, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã ký một văn kiện quan trọng mang tên Chiến lược quốc gia về R&D và ứng dụng trí tuệ nhân tạo hay còn gọi là Văn kiện Chiến lược.

Tài liệu dài 14 trang phác thảo các kế hoạch và sáng kiến ​​của Việt Nam nhằm “thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, đưa AI trở thành công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư”. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành “trung tâm đổi mới, phát triển các giải pháp và ứng dụng AI trong ASEAN và trên toàn thế giới” vào năm 2030. Tài liệu chiến lược đưa ra một số định hướng cho Việt Nam trong thập kỷ tới với các mục tiêu đầy tham vọng.

Nguồn vốn

Sự phát triển của AI cần một lượng vốn lớn từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như các công ty đầu tư mạo hiểm quốc tế, các nhà đầu tư mạo hiểm địa phương, tài trợ của chính phủ hoặc lợi nhuận của các công ty. Nguồn vốn cho phát triển AI ở Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước Đông Nam Á khác. Năm 2019, đầu tư cho AI bình quân đầu người của Việt Nam dưới 1 đô la Mỹ, trong khi quốc gia nổi bật ở Đông Nam Á là Singapore đầu tư 68 đô la Mỹ cho AI, tính bình quân đầu người.

Nguồn vốn từ hoạt động đồng tư mạo hiểm bị ảnh hưởng trong nửa đầu năm 2020 do đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của chính phủ, vấn đề này được cải thiện trong thời gian ngắn. Tại Vietnam Venture Summit 2020 , các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước đã cam kết đầu tư 800 triệu đô vào hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam. Theo Crunchbase, hiện tại, có 155 nhà đầu tư mạo hiểm đầu tư vào nước ta. Các công ty khởi nghiệp công nghệ nhận được nhiều khoản đầu tư nhất là vào thương mại điện tử, fintech và AI. Chính phủ cũng cung cấp tài trợ của nhà nước ở cấp quốc gia và thành phố để khuyến khích tinh thần kinh doanh.

Kết quả là, hệ sinh thái khởi nghiệp ở các thành phố như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội phát triển mạnh vào năm 2020, trước khi làn sóng đại dịch lần thứ tư tấn công cả nước vào tháng 4 năm 2021. Tài liệu chiến lược nêu rõ vai trò của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc “thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm cho các công ty khởi nghiệp AI sáng tạo tại Việt Nam”. Câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ là các kế hoạch mang vốn quốc tế cho phát triển công nghệ trong nước là gì; lĩnh vực cụ thể nào của AI nên là lĩnh vực đầu tư chính; nguồn tiền sẽ được phân phối như thế nào, và các cơ chế giải trình ra sao...

Mặt khác, sự phát triển của AI ở Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bởi các doanh nghiệp tư nhân. Tài liệu chiến lược vạch ra đường lối thúc đẩy số hóa và công nghiệp 4.0 nhằm tạo ra động lực cho các công ty nhận thức rõ hơn về tiềm năng của khoa học dữ liệu và AI. Hiện, các công ty Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu. Chỉ có một số tập đoàn lớn nổi bật trong không gian AI, điển hình là FPT, Vingroup và Zalo, có nguồn lực đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và triển khai AI.

Theo ông Nam Nguyen, CTO của một công ty thương mại điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Đầu tư vào AI cần rất nhiều tiền, nhưng lợi ích kinh tế mang lại thì chưa đáng kể. Các doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ không nhảy vào cuộc đua AI này. Chỉ những công ty lớn có thêm vốn mới có thể tham gia sân chơi”. Vấn đề này trở nên phổ biến ở các quốc gia nơi AI đã trưởng thành hơn. Ví dụ, nhiều công ty ở Mỹ vẫn đang đấu tranh để mở rộng quy mô các giải pháp AI trước khi tìm được những khách hàng sẵn sàng áp dụng. Các công ty Việt Nam cũng phải cạnh tranh với các giải pháp AI của nước ngoài hoặc nhập khẩu và thiếu vốn đầu tư mạo hiểm từ các quỹ trong và ngoài nước.

Tài năng

Không thiếu nhân tài kỹ thuật nhưng giáo dục AI còn tương đối mới ở Việt Nam. Hầu hết lực lượng lao động công nghệ đang làm việc trong lĩnh vực gia công phần mềm. Các tài năng lành nghề thường tìm kiếm các cơ hội nghề nghiệp ở nước ngoài có mức lương và đài ngộ cao hơn. Hơn nữa, những cơ hội này sẽ cho phép họ tham gia tích cực vào việc nghiên cứu, phát triển và triển khai các công nghệ AI hiện đại ở nhiều quốc gia phát triển.

Với bối cảnh này, tồn tại những điều kiện thách thức để giữ chân nhân tài ở Việt Nam. Thứ nhất, mức lương phải cạnh tranh so với thị trường khu vực và toàn cầu. Thứ hai, phải có các cơ hội phát triển chuyên môn cho nhân tài (ví dụ như các khóa học, hội nghị quốc tế, v.v.) để cập nhật các xu hướng và thực tiễn mới nhất trong phát triển AI. Tuấn Anh, một nhà khoa học nghiên cứu tại VinAI, khẳng định: “Chúng tôi cần thu hút các nhà khoa học Việt Nam về Việt Nam. Vấn đề mấu chốt vẫn là tiền lương. Thật khó để một công ty có trụ sở tại Việt Nam cạnh tranh với Google, DeepMind, Microsoft về tiền lương”.

Một điều đáng lo nữa là rào cản ngôn ngữ trong việc học AI. Vì tài liệu giáo dục về AI chủ yếu bằng tiếng Anh, điều quan trọng là phải tạo điều kiện cho các tài năng trẻ được hỗ trợ học ngoại ngữ cần thiết và giáo dục kỹ thuật hơn về AI. “Học sinh trong các chương trình đặc biệt có giảng dạy tiếng Anh. Tuy nhiên, trường chỉ nhận 50-60 sinh viên mỗi năm”, ông Khoat Than, Giáo sư Đại học Bách Khoa Hà Nội, cho biết.

Đạo đức AI

Tại Việt Nam, AI được nhìn nhận một cách tích cực, được coi là động lực xúc tác cho tiến bộ kinh tế và công nghệ. Trong tâm trí công chúng, khái niệm về AI là gì, nó được sử dụng như thế nào và ảnh hưởng đến ai vẫn chưa rõ ràng.

Do thúc đẩy số hóa và công nghiệp 4.0, người Việt Nam coi AI chỉ là một công cụ dành riêng cho các ngành công nghiệp. Một số thực hiện xử lý ngôn ngữ tự nhiên và thị giác máy tính được sử dụng cho các mục tiêu kinh doanh xa hơn. Tuy nhiên, những trường hợp này chỉ nằm trong số rất nhiều ứng dụng AI mà công chúng đã và đang sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn như bản đồ dẫn đường cho tài xế Grab, chương trình giảm giá trên Tiki hay Shopee đều được thực hiện bằng thuật toán. Nhận thức sâu sắc này là rất cần thiết trong việc mở rộng quan điểm của công chúng về vai trò của AI trong việc mang lại lợi ích hoặc gây hại cho cuộc sống.

Giữa đại dịch, các phát minh ATM gạo được triển khai tại nhiều thành phố đồng thời nhấn mạnh sự có mặt của AI là bước đầu tiên trong việc định hình tương lai công nghệ. Công chúng cần bắt đầu có nhiều cuộc trò chuyện về AI xoay quanh quyền riêng tư, lòng tin, an ninh mạng và đạo đức, cũng như các rủi ro của những khía cạnh này.

Đạo đức AI là một lĩnh vực mới nổi liên quan đến cơ quan đạo đức của máy móc và con người, những người thiết kế, phát triển và triển khai chúng. Trong thực tế, đạo đức AI được hiểu là một tập hợp các nguyên tắc đạo đức, thông báo cho các nhà thiết kế và nhà phát triển về tác hại của các hệ thống AI. Cụ thể, những tác hại liên quan đến các lĩnh vực khác nhau như: thiên vị (ví dụ thiên vị về giới trong chẩn đoán sức khỏe có sự hỗ trợ của máy tính ), tính minh bạch, khả năng giải thích và tính bền vững (ví dụ như phát thải carbon khi đào tạo các mô hình ngôn ngữ lớn),…

Trách nhiệm tạo ra các hệ thống AI có đạo đức và giảm thiểu tác hại do các hệ thống gây ra thuộc về cả tổ chức doanh nghiệp và xã hội. Hơn nữa, các vấn đề đạo đức và tác động của AI được thảo luận rộng rãi giữa các phương tiện truyền thông, công chúng, các nhà hoạch định chính sách, học viện và ngành công nghiệp, do đó thiết lập một môi trường năng động và liên ngành nơi các hệ thống AI được tạo ra và chỉ trích.

Ở Việt Nam, đạo đức AI không xuất hiện trong các cuộc thảo luận về chính sách công và truyền thông mà còn thiếu vắng trong giáo dục kỹ thuật. Ông Than lưu ý: “Thiếu đạo đức ở bậc đại học đối với sinh viên kỹ thuật. Những gì sinh viên học ở các trường đại học vẫn là đạo đức trong khoa học máy tính”. Các trường cao đẳng và đại học không chỉ nên đầu tư vào việc học hỏi từ việc học và giảng dạy chương trình giảng dạy này, áp dụng các thuật ngữ từ diễn ngôn toàn cầu; đầu tư vào nghiên cứu, đặc biệt là khoa học xã hội, nhằm xem xét các tác động xã hội của công nghệ ở Việt Nam”. Ở cấp chính phủ, Việt Nam có thể hướng tới các quốc gia châu Á khác đã soạn thảo các văn kiện chiến lược quốc gia nhằm tạo ra một khuôn khổ để tạo ra AI. Một ví dụ là Tài liệu về AI có trách nhiệm cho tất cả chiến lược được xuất bản gần đây bởi Niti Aayog, một tổ chức tư vấn hàng đầu của chính phủ Ấn Độ.

TL (theo e27)

Tin liên quan