![]() |
Theo báo cáo về diễn biến thị trường tiền tệ từ năm 2025 – quý 1/2026 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cơ quan này đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng và các chính sách vĩ mô khác, ngay trong quý đầu năm 2026.
Giảm ngay lãi suất huy động từ 0,5-1%/năm
Ngân hàng Nhà nước cho rằng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô khó lường, mặt bằng lãi suất tiền gửi và cho vay phát sinh mới đã tăng mạnh sau thời gian ổn định trong năm 2025.
![]() |
| Diễn biến lãi suất thị trường: Nguồn: NHNN. |
Nếu như, lãi suất tiền gửi chỉ ở mức 4 - 4,3%/năm, ổn định từ đầu năm 2025 đến hết tháng 9/2025.
Bắt đầu từ tháng 10/2025, lãi suất tiền gửi biến động tăng dần đều lên mức 6%/năm đến cuối quý 1/2026.
Lãi suất cho vay cũng biến động theo, với mức lãi cho vay 6,5-7%/năm, ổn định từ đầu năm 2025 đến tháng 9/2025, bắt đầu tăng nhanh từ cuối tháng 10/2025 khi lên mức 9%/năm vào quý 1/2026.
Theo NHNN, mức lãi suất tiền gửi phát sinh mới của hệ thống tổ chức tín dụng ở kỳ hạn 06 tháng trở lên đã tăng 2,09%/năm, và đã tăng liên tục từ tháng 10/2025 đến nay, hình thành mặt bằng lãi suất tiền gửi ở mức cao.
Hầu hết các ngân hàng thương mại (32/46) có mức lãi suất tiền gửi phát sinh mới ở mức cao nhất từ 8,5%/năm trở lên.
Ngoài ra, một số ngân hàng thương mại tung ra gói sản phẩm “sinh lời tự động” trên tài khoản thanh toán với lãi suất cao
Cụ thể, đã có 20 ngân hàng thương mại tăng lãi suất, 10 ngân hàng tăng giảm đan xen. Nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước: tăng 0,7-1,2%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần: tăng từ 0,1-1,75%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
![]() |
| Diễn biến lãi suất thị trường: Nguồn: NHNN. |
Thực tế thị trường cho thấy, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần luôn có mức lãi suất cao hơn nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước.
Theo đó, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng cam kết đồng thuận giảm 0,5 - 1%/năm lãi suất tiền gửi phát sinh mới các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên và giảm lãi suất cho vay thực chất, để hỗ trợ nền kinh tế.
Ngân hàng đã cho vay quá nhiều so với tiền gửi vào hệ thống
Theo NHNN, đồng biến với xu hướng tăng lãi suất là xu hướng mất cân đối cơ cấu nguồn vốn – sử dụng vốn của hệ thống tổ chức tín dụng.
![]() |
| Diễn biến nguồn vốn - sử dụng vốn. Nguồn: NHNN. |
Số liệu thống kê của NHNN cho thấy, tăng trưởng tiền gửi luôn thấp hơn tăng trưởng dư nợ tín dụng toàn ngành. Nghĩa là các ngân hàng thương mại kể từ năm 2022 tới quý 1/2026, luôn cho vay cao hơn so với số tiền người dân gửi vào. Điều này khiến cho tỷ lệ cho vay so với huy động (LDR) luôn trên mức 100%, vượt quy định cho phép là 85% (tại Thông tư 26/2022 của NHNN).
Cụ thể, năm 2022, tăng trưởng huy động toàn ngành ở mức 7,4%, nhưng cho vay tăng gấp đôi lên mức 15,7%, khiến tỷ lệ LDR ở mức 102,3%.
Năm 2023, tăng trưởng huy động đạt 15,25%, dù cho vay tăng thấp hơn và ở mức 14,2%, nhưng tỷ lệ LDR vẫn cao 101,4%.
Năm 2024, tăng trưởng huy động 10,7%, cho vay tăng gấp rưỡi và đạt 15,4%, tỷ lệ LDR ở mức 105,7%.
Năm 2025, tăng trưởng huy động ở mức 14,5%, cho vay tăng hơn 19,4%, tỷ lệ LDR ở mức 110,2%.
Ngay quý 1/2026, tăng trưởng huy động chỉ ở mức 0,78%, nhưng cho vay tăng hơn 2,35% khiến cho LDR ở mức 111,9%.
Nguồn tiền thiếu hụt sẽ được các ngân hàng thuơng mại vay mượn nhau trên thị trường liên ngân hàng. Điều này góp phần làm cho lãi suất trên thị trường này “nóng” lên trong thời gian qua.
Tuy nhiên, một hệ quả của việc các ngân hàng thương mại cho vay cao hơn huy động cũng giúp cho lợi nhuận ngân hàng tăng cao, đạt hàng chục nghìn tỷ đồng trong các bản báo cáo kết quả kinh doanh những năm gần đây.
Ưu tiên kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%
Để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, kiên định ưu tiên kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%.
Điều hành nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, bám sát mục tiêu chính sách tiền tệ. Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường.
Điều hành tỷ giá linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ tổ chức tín dụng và linh hoạt can thiệp thị trường nhằm ổn định tỷ giá, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Điều hành tăng trưởng tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, kịp thời điều chỉnh tăng hoặc giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với tổ chức tín dụng để đảm bảo kiểm soát lạm phát, không đánh đổi tăng trưởng kinh tế ngắn hạn với lạm phát.