Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc mới đây ký Quyết định số 352/QĐ-TTg ngày 27/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026 (Kế hoạch).
Không cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay của doanh nghiệp
Về Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026, Kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng, gồm: Vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 959.705 tỷ đồng, trong đó vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa là 583.700 tỷ đồng, vay để trả nợ gốc không quá 376.005 tỷ đồng; Vay về cho vay lại: khoảng 10.092 tỷ đồng. Nguồn huy động kết hợp linh hoạt các công cụ (i) phát hành trái phiếu Chính phủ; (ii) vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; (iii) phát hành trái phiếu quốc tế Chính phủ và các nguồn tài chính hợp pháp khác.
![]() |
| Năm 2026 sẽ không cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay của doanh nghiệp (Ảnh minh hoạ) |
Trả nợ của Chính phủ khoảng 534.739 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 493.405 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại khoảng 41.334 tỷ đồng.
Về vay được Chính phủ bảo lãnh: Đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam thì hạn mức phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh tối đa bằng mức trả nợ gốc trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đến hạn năm 2026 là 2.910 tỷ đồng; Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội thì hạn mức phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh tối đa là 251 tỷ đồng.
Quyết định Quyết định 352/QĐ-TTg nêu rõ không bố trí hạn mức bảo lãnh Chính phủ năm 2026 cho các dự án vay trong nước, nước ngoài của doanh nghiệp do các dự án đã kết thúc rút vốn.
Bên cạnh đó, việc quản lý, sử dụng nguồn vốn trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phải bảo đảm đúng mục đích, đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, tại Quyết định này, Bộ Tài chính được giao kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách địa phương và mức vay nợ của ngân sách địa phương, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ; đẩy mạnh phương thức rút vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài theo cơ chế hỗ trợ trực tiếp ngân sách. Xây dựng Đề án phát hành Trái phiếu quốc tế trình cấp có thẩm quyền để sẵn sàng khi cần huy động. Nghiên cứu các phương thức huy động vốn vay mới, một mặt vừa đảm bảo huy động đủ vốn vay cho đầu tư phát triển, đồng thời kiểm soát nợ công, nợ nước ngoài quốc gia trong giới hạn trần, ngưỡng cảnh báo dự kiến cho giai đoạn 2026-2030.
Tích cực mở rộng cơ sở thu, ưu tiên bố trí nguồn vượt thu, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước để giảm bội chi ngân sách nhà nước, tăng chi trả nợ (bao gồm trả nợ gốc và lãi).
Điều hành linh hoạt kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ, thời điểm phát hành, gắn với quản lý ngân quỹ để góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu huy động và dự phòng trong thời điểm thị trường không thuận lợi, bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ; tăng cường kiểm tra việc sử dụng vốn vay và trả nợ...
6 điều kiện để được cấp bảo lãnh Chính phủ
Khoản 20 Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2017 quy định về khái niệm bảo lãnh Chính phủ như sau:"Bảo lãnh Chính phủ là cam kết của Chính phủ bằng văn bản bảo lãnh với bên cho vay về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong trường hợp đến hạn trả nợ mà bên vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ".
Đối tượng được bảo lãnh Chính phủ được quy định tại Điều 41 Luật Quản lý nợ công 2017, hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Nghị định 91/2018/NĐ-CP gồm: Doanh nghiệp có dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công; Ngân hàng chính sách của Nhà nước thực hiện chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước.
Nghị định 91/2018/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đã được Chính phủ ban hành ngày 26/6/2018, có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.
Theo Nghị định này, doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư được cấp bảo lãnh Chính phủ nếu đáp ứng đủ 06 điều kiện sau: Có tư cách pháp nhân, hoạt động liên tục ít nhất 03 năm trước ngày nộp hồ sơ đề nghị phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh, đề nghị cấp bảo lãnh; Không bị lỗ trong 03 năm liền kề gần nhất theo các báo cáo kiểm toán; Không có nợ quá hạn tại thời điểm đề nghị cấp bảo lãnh; Có phương án tài chính dự án khả thi được Bộ Tài chính thẩm định và báo cáo Thủ tướng phê duyệt; Có tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu 20% tổng mức đầu tư của dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; Trong trường hợp phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện về phát hành chứng khoán ra công chúng.
Về mức bảo lãnh Chính phủ, Nghị định quy định mức bảo lãnh đối với dự án do Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư là 70% tổng mức đầu tư; dự án do Thủ tướng quyết định đầu tư là 60% và mức bảo lãnh đối với trái phiếu do Ngân hàng Chính sách phát hành tối đa là 100%.