Theo báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường lập tháng 5/2026, Nhà máy sản xuất ván dán Bison do Công ty Cổ phần Ván công nghệ cao Bison làm chủ cơ sở. Người đại diện theo pháp luật là ông Dương Hội, chức vụ Tổng giám đốc. Cơ sở đặt tại CN16, Khu công nghiệp Tâm Thắng, xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng.
Nhà máy có diện tích mặt bằng khoảng 6 ha, công suất thiết kế 120.000 m³ ván dán mỗi năm. Tổng vốn đầu tư của cơ sở là 151,5 tỷ đồng, được xác định thuộc dự án nhóm B trong lĩnh vực công nghiệp. Về phân nhóm môi trường, báo cáo cho biết cơ sở không thuộc đối tượng có yếu tố nhạy cảm về môi trường và không thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, do có phát sinh nước thải, bụi, khí thải và chất thải nguy hại phải quản lý, cơ sở thuộc nhóm III theo quy định về bảo vệ môi trường.
![]() |
| Nhà máy sản xuất ván dán Bison do Công ty Cổ phần Ván công nghệ cao Bison làm chủ cơ sở |
Về pháp lý môi trường, dự án đã được UBND tỉnh Đắk Nông cũ, nay là tỉnh Lâm Đồng, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Quyết định số 1799/QĐ-UBND ngày 09/11/2017 đối với nhà máy sản xuất ván dán công suất 120.000 m³/năm. Đến ngày 02/4/2019, dự án được xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường theo Giấy xác nhận số 1393/GXN-UBND. Ngoài ra, nhà máy đã ký hợp đồng đấu nối xử lý nước thải với Công ty Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp Tâm Thắng từ ngày 01/8/2018.
Nhà máy Bison sản xuất ván dán làm nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu, phục vụ các lĩnh vực như trang trí nội thất và xây dựng. Theo hồ sơ, thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp gồm khoảng 70% xuất khẩu sang EU, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số thị trường khác; 30% còn lại tiêu thụ nội địa, chủ yếu cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, nội thất xuất khẩu tại Đồng Nai, Gia Lai, TP Đà Nẵng, TP. Hồ Chi Minh và TP Hà Nội.
Nguồn nguyên liệu chính của nhà máy là gỗ rừng trồng, gồm gỗ cao su đến tuổi thanh lý, gỗ keo lai và một số loại cây công nghiệp do tổ chức, cá nhân trong nước trồng sản xuất hoặc nhập khẩu từ Campuchia. Với công suất 120.000 m³ sản phẩm mỗi năm, nhu cầu nguyên liệu gỗ dự kiến khoảng 232.800 tấn/năm.
Quy trình sản xuất của nhà máy được thực hiện trên dây chuyền máy móc nhập khẩu đồng bộ, có tính tự động hóa cao. Các công đoạn chính gồm bóc vỏ, lạng veneer, sấy, lăn keo, tạo thảm veneer, ép nguội, ép nóng, xử lý bề mặt, chà nhám, cưa thành phẩm, phủ phim, hoàn thiện và đóng kiện. Trong quá trình này, các nguồn phát sinh môi trường chủ yếu gồm vỏ cây, gỗ vụn, bụi gỗ, mạt cưa, hơi formaldehyde, khí thải lò cấp nhiệt, tiếng ồn và chất thải nguy hại.
Đối với nước thải, báo cáo xác định tổng lượng nước thải phát sinh theo tính toán tối đa khoảng 13,5 m³/ngày đêm, chủ yếu từ hoạt động sinh hoạt của công nhân viên và hoạt động vệ sinh, dọn dẹp. Nước thải từ các khu nhà vệ sinh, văn phòng, căn tin và nhà ở cán bộ được thu gom qua hệ thống ống dẫn về bốn bể tự hoại ba ngăn để xử lý sơ bộ, sau đó đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp Tâm Thắng để tiếp tục xử lý.
Về nhu cầu sử dụng nước thực tế, số liệu thống kê năm 2025 - 2026 cho thấy lượng nước sử dụng trung bình của cơ sở khoảng 172,1 m³/tháng, tương đương 5,74 m³/ngày. Lưu lượng sử dụng và xả thải thực tế lớn nhất ghi nhận khoảng 10,25 m³/ngày đêm, thấp hơn so với mức tính toán tối đa 13,5 m³/ngày đêm.
Đối với khí thải, các nguồn phát sinh đáng chú ý đến từ khu vực lò đốt cấp nhiệt và công đoạn chà nhám. Báo cáo mô tả nhà máy đã bố trí công trình thu gom, xử lý khí thải từ khu vực lò đốt và hệ thống thu gom, xử lý bụi tại khu vực chà nhám. Đây là các hạng mục quan trọng trong kiểm soát bụi gỗ, khí thải đốt nhiên liệu sinh khối và các yếu tố phát sinh trong quá trình sản xuất ván dán.
Đối với chất thải rắn thông thường, các loại phát sinh trong quá trình sản xuất như vỏ cây, lõi gỗ, gỗ vụn, bìa, bột và bụi gỗ được thu gom, trong đó một phần được tái sử dụng làm nhiên liệu đốt. Cách xử lý này phù hợp với đặc thù của ngành chế biến gỗ, giúp giảm lượng chất thải phải chuyển giao ra bên ngoài, đồng thời tận dụng phụ phẩm sản xuất cho mục đích năng lượng.
Đối với chất thải nguy hại, báo cáo ghi nhận khối lượng phát sinh khoảng 10.560 kg/năm trong các năm 2024 và 2025. Loại chất thải này được chuyển giao cho đơn vị có chức năng là Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng An Sinh vận chuyển, xử lý theo quy định. Bùn từ bể tự hoại phát sinh khoảng 16 m³/năm, được quản lý thông qua hệ thống bể tự hoại và đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải của KCN Tâm Thắng.
Một điểm đáng chú ý trong hồ sơ là kết quả kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường. Năm 2024, Công ty Cổ phần Ván công nghệ cao Bison đã tiếp đoàn kiểm tra của Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường theo Quyết định số 628/QĐ-KSONMT ngày 02/10/2024. Theo báo cáo, công ty đã thực hiện các kết luận của đoàn kiểm tra, gồm thực hiện đúng quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các văn bản hướng dẫn; thực hiện đúng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường, giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường; đồng thời vận hành ổn định các công trình xử lý chất thải. Năm 2025, công ty chưa tiếp đoàn kiểm tra nào về bảo vệ môi trường.
Trong chương trình quan trắc môi trường đề xuất, cơ sở không thuộc đối tượng phải quan trắc tự động, liên tục. Tuy nhiên, để theo dõi hiệu quả xử lý chất thải và kịp thời phát hiện sự cố, doanh nghiệp đề xuất thực hiện quan trắc định kỳ mỗi năm một lần đối với nước thải và khí thải. Đối với nước thải, vị trí giám sát là đầu ra bể tự hoại trước khi đấu nối vào hệ thống KCN, với các thông số như pH, TSS, BOD5, COD, amoni, tổng N, tổng P, tổng dầu mỡ và Coliform. Đối với khí thải, vị trí giám sát là khí thải sau xử lý từ lò cấp nhiệt, với các thông số bụi, SO2, NO2 và CO.
Hồ sơ của Bison cho thấy doanh nghiệp đang thực hiện bước chuyển từ hệ thống pháp lý môi trường theo đánh giá tác động môi trường và xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường sang cơ chế giấy phép môi trường theo quy định mới. Đây là yêu cầu pháp lý cần thiết đối với các cơ sở sản xuất đang vận hành, đặc biệt trong các ngành có phát sinh bụi, khí thải, nước thải và chất thải nguy hại như chế biến gỗ, sản xuất ván dán.
Việc đề xuất cấp giấy phép môi trường không chỉ là thủ tục hành chính mà còn là cơ sở để cơ quan chức năng xác lập giới hạn xả thải, yêu cầu quan trắc, trách nhiệm vận hành công trình bảo vệ môi trường và nghĩa vụ quản lý chất thải của doanh nghiệp. Với một nhà máy có công suất 120.000 m³ ván dán/năm, việc duy trì hệ thống kiểm soát môi trường ổn định sẽ là điều kiện quan trọng để bảo đảm hoạt động sản xuất lâu dài, đáp ứng yêu cầu pháp lý và giữ ổn định chuỗi cung ứng ngành gỗ xuất khẩu.