Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu 73-74 tỷ USD trong năm 2026 và hướng tới tăng trưởng xanh, việc thu hút doanh nghiệp đầu tư được xem là yếu tố then chốt. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, đòi hỏi Chính phủ cần có những chính sách mang tính đột phá để mở rộng không gian phát triển.
![]() |
| Toàn cảnh các khách mời và chuyên gia tham gia sự kiện |
Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò là "trụ đỡ" của nền kinh tế, song số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Đây là nhận định được nhiều chuyên gia đưa ra tại Diễn đàn Nông nghiệp 2026 với chủ đề "Kiến tạo không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới" do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 16/7.
![]() |
| Ông Trần Ngọc Liêm, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kiêm Giám đốc VCCI khu vực TP.HCM phát biểu khai mạc |
Phát biểu tại diễn đàn, ông Trần Ngọc Liêm, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kiêm Giám đốc VCCI khu vực TP.HCM cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu năm 2026 toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 3,7%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt từ 73-74 tỷ USD, hướng đến mô hình tăng trưởng xanh, hiện đại và bền vững.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, việc gia tăng sự tham gia của doanh nghiệp vẫn là bài toán lớn.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện cả nước có hơn 50.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong gần 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Đáng chú ý, doanh nghiệp trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm khoảng 1-2%, trong khi số doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận chưa tới 50, khoảng dưới 300 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (chưa tới 3% tổng số doanh nghiệp nông nghiệp.
Theo ông Trần Ngọc Liêm, con số trên chưa phản ánh đúng tiềm năng của ngành. Nhiều doanh nghiệp vẫn e ngại đầu tư do gặp hàng loạt rào cản về cơ chế thử nghiệm mô hình mới, khả năng tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn cũng như hạn chế trong chuyển giao công nghệ.
Ông cho rằng, các mô hình nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn hay nông nghiệp phát thải thấp đều cần thời gian để tích lũy dữ liệu, kiểm chứng hiệu quả trước khi nhân rộng. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư.
Cần hình thành những doanh nghiệp nông nghiệp đủ sức dẫn dắt thị trường
![]() |
| TS. Phạm Viết Thuận, Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM phát biểu tại sự kiện . Ảnh An Hà |
Đồng quan điểm, TS. Phạm Viết Thuận, Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM nhận định, nông nghiệp không chỉ là ngành sản xuất lương thực mà còn là lợi thế chiến lược, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Theo ông, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu là xu hướng tất yếu. Cùng với đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và tự động hóa trong sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.
"Mục tiêu đến năm 2030 cần hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn, đủ năng lực dẫn dắt thị trường trong nước và cạnh tranh ở khu vực cũng như quốc tế", TS. Phạm Viết Thuận nhấn mạnh.
Ông cũng chỉ ra thực tế hiện nay phần lớn doanh nghiệp thu mua nông sản Việt Nam là doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, Việt Nam cần sớm xây dựng các doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để làm chủ chuỗi giá trị nông sản.
Để tạo không gian phát triển mới cho ngành, theo vị chuyên gia này, cần có những đột phá về thể chế nhằm phát triển kinh tế tập thể, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với hợp tác xã và hộ nông dân. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro giữa doanh nghiệp chế biến và người sản xuất, cũng như có chính sách kiểm soát tình trạng thao túng giá qua khâu trung gian.
![]() |
| Ông Nguyễn Hoàng Anh - Chủ tịch tập đoàn Nam Miền Trung nêu ý kiến tại diễn đàn. Ảnh T.H |
Tuy nhiên một điểm nghẽn lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam là manh mún về diện tích đất sản xuất. Ông Nguyễn Hoàng Anh - Chủ tịch tập đoàn Nam Miền Trung nhận xét, chúng ta khó có thể phát triển nông nghiệp mạnh như Thái Lan. Vì khó có những vùng trồng lớn. Bây giờ chúng tôi có nhu cầu thuê diện tích đất hàng ngàn ha nhu Thái Lan để trồng trọt, công nghiệp hóa rất khó khăn nếu nhà nước không đứng là làm chủ. Hay như ông Ngô Xuân Chinh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu cứu chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp cho rằng để giải quyết bài toán đất đai cần thành lập ngân hàng đất đai – Nhà nước đứng ra thuê và cho người có nhu cầu sản xuất thuê lại. Như vậy mới điều tiết được phần đất sản xuất.
Mở rộng không gian phát triển bằng thể chế và hội nhập
Để nông nghiệp trở thành cực tăng trưởng mới của nền kinh tế, nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích đầu tư tư nhân, thúc đẩy kinh tế tập thể và phát triển mạnh các chuỗi liên kết.
Bên cạnh đó, cần tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn vốn xanh, tiếp nhận công nghệ tiên tiến và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Việc triển khai hiệu quả các chương trình trọng điểm như Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng sẽ tạo nền tảng để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, xanh và có sức cạnh tranh toàn cầu.
Các chuyên gia nhận định, khi những điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và công nghệ được tháo gỡ, cùng với sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nông nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ tiếp tục là "trụ đỡ" mà còn có thể trở thành một trong những cực tăng trưởng quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới.
![]() |
| Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Nhà sáng lập - Tổng Giám đốc Tập đoàn Nafoods Group |
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Nhà sáng lập,Tổng Giám đốc Tập đoàn Nafoods Group cũng đề xuất 5 nhóm chính sách để tháo gỡ “nỗi đau”của ngành nông nghiệp:
Thứ nhất, hình thành nguồn vốn trung và dài hạn cho nông nghiệp giá trị cao và các ưu đãi đầu tư thực chất cho chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải. Thứ hai, xây dựng cơ chế liên kết ổn định giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệ. Thứ ba, đầu tư vào hạ tầng mềm của xuất khẩu nông sản. Thứ tư, hỗ trợ tiêu chuẩn hóa và thị trường hóa, thay vì chỉ hỗ trợ sản xuất. Thứ năm, xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia. Ông ví dụ trực quan vào trái chanh leo của công ty ông.Trên mảnh vườn của người nông dân, đó là một loại trái cây. Nhưng khi được bắt đầu từ giống phù hợp với thị trường, được canh tác theo quy trình, được tổ chức trong một vùng nguyên liệu liên kết, được quản lý bằng dữ liệu, được chế biến bằng công nghệ, được kiểm soát theo tiêu chuẩn quốc tế và được đưa tới đúng khách hàng, trái chanh leo ấy không còn chỉ là một loại nông sản. Nó trở thành một sản phẩm có giá trị.
Các chuyên gia tại diễn đàn thống nhất rằng, để tạo động lực tăng trưởng mới cho ngành nông nghiệp, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, lấy giá trị gia tăng làm trung tâm không nên chỉ theo đuổi sản lượng.
Xây dựng chuỗi giá trị thay vì chỉ bán nông sản
Và ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, lợi thế lớn của Việt Nam là sở hữu nhiều loại trái cây có chất lượng và hương vị được thị trường quốc tế đánh giá cao.
Tuy nhiên, theo ông, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, chất lượng sản phẩm mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được các tiêu chuẩn quốc tế, thương hiệu mạnh và chuỗi giá trị bền vững.
Nafoods hiện đã phát triển hệ sinh thái khép kín từ nghiên cứu giống, phát triển vùng nguyên liệu, chế biến đến xuất khẩu. Doanh nghiệp sở hữu 5 nhà máy, 2 viện nghiên cứu giống công nghệ cao, liên kết hơn 50.000 ha vùng nguyên liệu với các hợp tác xã và nông dân, đồng thời xuất khẩu sản phẩm tới 70 quốc gia và có 6 công ty giống chanh leo.
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, toàn bộ chuỗi giá trị này được xây dựng theo tư duy kinh tế nông nghiệp thay vì chỉ tập trung vào sản xuất. Doanh nghiệp cũng hợp tác với nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, trong đó có các chuyên gia đến từ Đài Loan, nhằm nghiên cứu và phát triển các giống cây phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của từng vùng tại Việt Nam.Song song với đó là hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, tín dụng và chuyển giao công nghệ; phát triển chuỗi giá trị; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và áp dụng các tiêu chuẩn xanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.